Chicken SoThông báo!
... đang bị chập điện, què giò, Allergie, ... cần giữ gìn sức khoẻ, nên xin nghỉ 1 tuần... tập Yoga, gìn hơi thở sắp tàn...
Xin bà con vui lòng xào nấu lại tin tức động đất Fukushima cũ!
(
tt101027@gmx.de- cám ơn)

Von: R D <goloty@yahoo.com>
Miss Airport Calendar 2011

Chicken Soup for the Soul - Dưỡng chất cho tâm hồn
NGHỊCH LÝ CUỘC ĐỜI

Con người là một thể thống nhất, cuộc sống là một bức tranh toàn cảnh, nhưng do khả năng hạn chế, con người khó nhìn nhận cuộc sống, các vấn đề của mình một cách toàn diện, do đó họ khó tránh khỏi sai lầm.
- Nghịch lý thứ nhất: con ngưòi khi có sức khỏe thì phung phí, khi không còn sức khỏe mới lo giữ gìn.
Trong nhân gian có câu nói phản ánh thực tế cuộc sống là: “Trẻ ngồi quán trà, già tập thể dục”.
Đúng vậy, ở công viên, các địa điểm tập thể dục công cộng, chúng ta thường thấy đa số các cụ già, những người có tuổi – khi mà sức khỏe đã giảm sút trông thấy - tập thể dục để giữ gìn sức khỏe.
Trong khi đó, những người thanh niên đang sung sức thì rất ít quan tâm đến sức khoẻ của mình, thậm chí còn phung phí, phá hoại sức khỏe như: ăn uống không điều độ, thức khuya (kể cả thâu đêm), hút thuốc lá, uống rượu bia “thả phanh”, làm việc căng thẳng quá mức…
Đúng như nhiều người nhận xét: khi có thì chả giữ, khi không còn thì cố níu kéo. Đó là tâm lý chung qua nhiều thời kỳ, nhiều thế hệ, nhưng thật khó rút được kinh nghiệm cho mỗi người.

- Nghịch lý thứ hai: ở tuổi có khả năng hưởng thụ thì không có điều kiện để hưởng thụ, đến khi có điểu kiện thì không còn khả năng để hưởng thụ.
Chúng ta thấy, mọi người khi bắt đầu bước vào cuộc sống tự lập, còn trẻ, khỏe, thích ăn, thích diện, thích thể hiện bản thân.
Nhưng khi đó họ mới bắt đầu lập nghiệp, còn bỡ ngỡ với công việc, chưa có kinh nghiệm, thu nhập thấp, khó khăn rất lớn về kinh tế.
Tất nhiên, họ phải hạn chế nhu cầu hưởng thụ của mình và tập trung tất cả cho công việc, để nâng cao thu nhập, để tích lũy của cải, thậm chí có người không còn thời gian cho bản thân, không còn thời gian để chăm lo sức khỏe. Rồi họ phải lo cho cuộc sống gia đình
Và đến một độ tuổi nhất định, tuổi trưởng thành, khi họ đã có nhiều điều kiện về kinh tế, thì khi đó, nhiều người sức khỏe đã bị suy sút, có bệnh tật (do làm việc căng thẳng và những vấn đề khác của cuộc sống), họ phải kiêng khem, giữ gìn, không dám ăn và không được ăn, vui chơi, giải trí cũng cúng không còn là nhu cầu đáng kể.
Đúng là trong cuộc sống, tính thời điểm rất quan trọng, có những thời điểm chúng ta phải ưu tiên đầu tư, tập trung thời gian, công sức nhiều hơn vào những công việc, những vấn đề nào đó được quan tâm ít hơn. Nhưng cũng phải luôn luôn ghi nhớ, những vấn đề khác là vấn đề thứ yếu, chứ không thể bỏ qua
Chẳng hạn, khi còn trẻ tuổi, chúng ta phải chăm chỉ học hành, tích lũy kiến thức, cần cù lao động, tích cực khám phá, sáng tạo để có thu nhập tốt, xây dựng điều kiện cơ sở vật chất cho bản thân và gia đình.
Nhưng không có nghĩa là chúng ta có thể quên mất bản thân, không dành thời gian nghỉ ngơi, giải trí hợp lý, không chăm lo cho các mối quan hệ.
Bởi vì những thứ mất đi rất khó lấy lại được, đặc biệt là sức khỏe.
Có một hình ảnh rất thú vị: khi còn trẻ, một ngưòi thanh niên sử dụng hết sức khỏe của mình đề làm giàu, nhưng khi trở thành một ông già, giàu có, người đó muốn lấy tiền của để mua sức khỏe thì không mua được.
Những nghịch lý đó một lần nữa nhắc nhở chúng ta rằng, cuộc sống là một bức tranh toàn cảnh, để có bức tranh đẹp, người họa sĩ phải biết sử dụng hài hòa nhiều màu sắc và cảnh vật.
Nếu nhìn lệch lạc và phiến diện, cuộc sống sẽ mất đi nhiều ý nghĩa của nó.


Chicken Soup for the Soul - Dưỡng chất cho tâm hồn
CÔ ĐƠN

Cô đơn là cho đi mà không có người nhận, là muốn nhận mà chẳng có ai cho.Cô đơn là chờ đợi, mà cái mình chờ đợi chẳng xảy đến.Như hai bờ sông nhìn nhau mà vẫn nghìn trùng cách xa bởi dòng sông, nên cô đơn là gần nhau mà vẫn cách biệt. Không phải cách biệt của không gian mà là cách biệt của cõi lòng. Bởi đó, vợ chồng có thể cô đơn bên nhau.
Càng gần nhau mà vẫn cách biệt thì nỗi cô đơn càng cay nghiệt. Đã cay nghiệt mà vẫn phải gần nhau thì lại càng cô đơn hơn.
Người ta gần nhau mà vẫn có thể xa nhau, vì trong cuộc đời, mỗi người đều có hai thế giới. Thế giới riêng trong cõi lòng tôi và thế giới ngoài vũ trụ. Thế giới tâm hồn tôi sụp đổ thì thế giới bên ngoài thành hoang vắng, vô nghĩa. “Lòng buồn cảnh có vui đâu bao giờ”. Vì thế, tôi có thể cô đơn giữa đám đông. Cả vườn hoa chẳng có nghĩa gì nếu không có loài hoa tôi kiếm tìm. Người đưa thư trở thành thừa thãi nếu không có cánh thư tôi đang chờ mong. Chỉ một cánh hoa của lòng tôi thôi cũng đủ làm cho cả khu đồi thành dễ thương. Chỉ một cánh thư thôi cũng đủ làm cho bầu trời xanh thăm thẳm. Làm gì còn cô đơn nữa nếu đã có bắt gặp.
Tôi cô đơn khi thấy quanh mình chỉ là những dòng sông lững lờ, chỉ là những con nước thờ ơ. Tôi có thể cô đơn vì tôi không đến được với người. Tôi cũng có thể cô đơn vì người không muốn đến với tôi.
Cô đơn nào thì cũng là một hải đảo. Nhưng nỗi cô đơn bị người khác hờ hững thì cay đắng hơn. Khi tự mình không bước tới thì tôi cũng có thể tự mình bước ra khỏi hàng rào cô đơn đó.
Còn nỗi cô đơn bị người khác thờ ơ thì đưa tôi vào nỗi buồn mà có khi đau đớn hơn tù đầy, có khi u ám hơn sự chết, vì đây là nỗi cô đơn tôi muốn chạy trốn mà chẳng trốn chạy được. Tôi thương, nhưng người khác có thương tôi không đấy là tự do của họ. Cho đi phần đời của mình mà không được đáp trả vì thế mới có xót xa.


Chicken Soup for the Soul - Dưỡng chất cho tâm hồn
NHỚ ĐẾN TÔI

Ngày ấy sẽ đến, khi thân xác tôi nằm trên một chiếc giường phủ drap trắng trong một bệnh viện đầy ắp những người sống và những người đang hấp hối. Chẳng bao lâu bác sĩ sẽ quyết định rằng bộ não tôi ngưng hoạt động và rằng thực tế là cuộc sống của tôi đã chấm dứt.
Khi điều đó xảy ra, đừng cố gắng giúp tôi một cuộc sống nhân tạo bằng việc sử dụng máy móc. Ðừng gọi chiếc giường này là giường chết mà hãy gọi nó là chiếc giường của cuộc sống, và hãy mang thân xác tôi ra khỏi giường để giúp đỡ những kẻ khác có cuộc sống vẹn toàn hơn.
Hãy lấy thị giác của tôi cho người đàn ông chưa bao giờ được nhìn thấy ánh mặt trời lúc bình minh, một gương mặt trẻ thơ hay tình yêu trong ánh mắt của người phụ nữ. Hãy đưa trái tim của tôi cho người có trái tim tim bị đau đớn trong những ngày tháng vô tận. Hãy lấy máu của tôi cho một thiếu niên vừa được kéo ra khỏi đống vụn xe sau tai nạn để cháu có thể sống mà nhìn thấy hậu sinh của mình.
Hãy đưa trái thận của tôi cho một người phải lệ thuộc vào máy để sinh tồn từ tuần này sang tuần khác. Hãy lấy xương của tôi, lấy từng bắp thịt, thớ thịt và từng sợi dây thần kinh trong thân xác tôi và tìm cách giúp một đứa trẻ tàn tật có thể đi được.
Tìm kiếm trong từng góc cạnh của bộ não tôi. Hãy lấy những tế bào nếu cần thiết hãy để nó phát triển để đến một ngày nào đó, một cậu bé không biết nói sẽ la lớn và một cô bé bị điếc có thể nghe được tiếng mưa rơi trên cửa sổ.Hãy đốt những gì còn lại của tôi và rải tro vào gió để giúp cho những bụi hoa nở rộ.
Nếu phải chôn một thứ gì đó, hãy chôn đi những lỗi lầm của tôi, sự yếu đuối của tôi và tất cả những thành kiến nhân loại.
Nếu tình cờ bạn mong muốn nhớ đến tôi, bạn hãy có những lời nói hoặc việc làm thật tử tế đối với những người cần bạn. Nếu bạn làm được như vậy tôi sẽ còn sống mãi mãi.


Bửu bối và bùa chú... xách giỏ đi chợ:

Còn đây là mắm muối gia vị...


Bánh xèo Nam Bộ
(Miền Nam kêu bánh Xèo... vì đổ bột vô chiên kêu xèo xèo. Miền Trung gọi bánh Khoái... vì ăn vô khoái lắm!)

1. Nguyên liệu bánh:
- 2 chén bột gạo, ¼ muỗng cà phê bột nghệ, ½ muỗng cà phê muối, ¾ chén nước cốt dừa, 3 cây hành lá, xắt lát mỏng
2. Nguyên liệu nhân :
- 1 chén mỡ hoặc dầu thực vật, ¼ kg thịt lợn vai, cắt thành lát mỏng, 1/4kg tôm nhỏ, bóc vỏ, rút tim thái nhỏ, ¼ muỗng cà phê muối, ½ chén hành tây thái lát, 1-2 quả ớt đỏ, chín thái lát mỏng, ¾ chén nấm cắt lát, 2 chén giá đỗ (đậu mầm)
- Cho lá rau diếp dưới đĩa để trang trí cho món bánh xèo thêm hấp dẫn. Chấm bánh với nước chấm bạn ưa thích và ăn ngay lập tức.
3. Chế biến:
- Trộn bột gạo, bột nghệ, muối vào bát tô. Thêm nước, sữa dừa vào trộn cho đến khi hỗn hợp mịn. Lọc qua lưới lộc nếu bột bị đặc vón cục, đặt sang bên và để khoảng 30 phút
- Đun nóng chảo, thêm 1 muỗng canh mỡ hoặc dầu ăn, sau đó cho thịt heo, tôm, hành tây, hành lá và nấm vào xào coh đến khi thịt heo và tôm chín, teo lại.
- Cho ½ chỗ bột đã nhào vào chảo, đảo lên để hai mặt chính đều. Cho giá đỗ và một phần nhân tôm đã xào lên trên bánh, để nhiệt độ thấp dần cho bánh chín đều.
- Cuộn bánh lại cho bao bọc lấy phần nhân rồi rán trong vòng 1 phút, khi các cạnh của bánh vàng nâu là được. Làm như vậy với phần còn lại.
- Cho lá rau diếp dưới đĩa để trang trí cho món bánh xèo thêm hấp dẫn. Chấm bánh với nước chấm và ăn ngay lập tức.
Chế biến nước chấm:
Nguyên liệu làm nước chấm:
- ¼ chén đường, ½ chén nước ấm, 3 muỗng canh nước chanh, ¼ chén nước mắm, Ớt chín cắt lát, 1 củ tỏi băm nhuyễn
Cách làm:
- Cho nước mắm, nước ấm, đường và nước chanh vào một bát nhỏ, trộn đều cho đến khi đường tan hoàn toàn
- Thêm tỏi và ớt trộn đều
- Dùng làm gia vị ăn với bánh xèo
Chúc các bạn ngon miệng!


Toà án liên bang HK phạt 2 công ty bồi thường 60 triệu USD cho 50 công nhân “nô lệ” VN
Hôm 14-04, toà Liên Bang ở Harris County (Texas) đã phán quyết hai công ty Mỹ, Coast to Coast Resources và ILP phải bồi thường 60 triệu dollars cho 12 thợ hàn Việt Nam (nguyên đơn) hiện cư ngụ tại Galveston và 43 công nhân khác sống rải rác ở hai tiểu bang Texas và Louisiana, do hai công ty Vinamotor và Interserco ở Việt Nam cung cấp cho Công Ty Coast to Coast Resources, Inc, USA và công ty ILC, cà hai đều có trụ sở tại Lousiana.
Từ năm 2009, Văn phòng luật sư Tony Buzbee đã khởi kiện hai công ty trên về tội buôn bán người (human traficking) qua thể thức tuyển dụng mang tính lừa đảo của Vinamotor và Interserco với mục đích trấn lột người đi lao động ở nước ngoài với lệ phí “khủng” từ $7.500 (USD) tới $15.000 (USD), đối với người lao động ở Việt Nam là cả một gia tài.
Hai công ty Việt Nam trên đã quảng cáo trên truyền hình rằng họ sẽ kiếm được $100.000 (USD) sau 30 tháng làm việc ở Mỹ. Cái bánh vẽ này qúa hấp dẫn nên gia đình các nạn nhân đã dốc hết vốn liếng, vay nợ với lãi xuất cắt cổ họăc cầm cố nhà cửa để nộp cho bọn “cá mập xuất cảng lao động” với hy vọng sau 30 tháng họ sẽ có một số tiền lớn sau khi đã trả xong món nợ “phí xuất cảnh lao động”.
Xin trích dẫn một vài điều khoản trong hợp đồng (hiện người viết có trong tay) giữa công nhân và công ty Coast to Coast Resources:
- Bên A: Coast to Coast Resources, Inc, USA ủy quyền cho ông Vũ Quốc Hùng, Chủ Tịch Công Ty ILP, LLC ký hợp đồng với công nhân Việt Nam xuất sang Hoa Kỳ lao động.
- Bên B là công nhân xuất đi lao động tại Hoa Kỳ.
- Bên A sẽ tiếp nhận công nhân VN làm thợ hàn tại các khu kỹ nghệ dầu khí ở Mỹ với thời hạn là 10 tháng và triển hạn hai lần, mỗi lần 10 tháng. Nơi làm việc là hãng Dynamic Industries, Inc, có trụ sở tại Harvey, tiểu bang Louisiana. Mỗi ngày làm 10 giờ, 5 ngày một tuần, lương bổng :$15/giờ cho 40 giờ đầu và $22.50 cho mồi giờ “overtime”. Số giờ tối thiểu là 50giờ/tuần hay 2000 giờ cho 10 tháng, ngoại trừ trường hợp thật đặc biệt…
- Công nhân phải tự trả chi phí dụng cụ hành nghề : $280 tiền welder, $300 tiền fitter và phí chuyên chở $85/tuần và nhà ở $125/tuần và phí điều hành $2,00/giờ (cho hãng Coast to Coast Resources) – Công nhân phải tự túc về ăn uống.
- Công nhân phải tự trả các phí tổn về Visa, vé máy bay tới Mỹ cũng như các phí tổn khác về giấy tờ và vận chuyển ở Việt Nam.
- Trong trường hợp bên B phải trở về VN trước khi hoàn tất lao động trong hợp đồng mà lỗi không thuộc bên A thì hai bên có thể thương thảo để đạt được đồng thuận.
- Trong trường hợp bên B phải trở về VN trước khi hoàn tất lao động trong hợp đồng do lỗi của bên B thì bên B phải có trách nhiệm bồi thường các mất mát (nếu có) cho bên A cũng như cho thành phần thứ 3…

Xin phân tích một vài điều khoản “nguy hiểm” của bản hợp đồng trên.
1/Theo luật Di Trú Mỹ thời hạn cư trú dành cho các công nhân vào Mỹ theo visa H-2B tối đa là 12 tháng nhưng có thể xin triển hạn thêm 2 lần; mỗi lần 12 tháng nhưng không thể qúa 3 năm, nếu hãng thu nhận công nhân chứng minh được với Sở Di Trú rằng công việc của họ chưa hoàn tất và không kiếm được người thay thế ở nước Mỹ (Visa H-2B chỉ cho phép các hãng mướn công nhân -có chuyên môn hoặc không chuyên môn- vào Mỹ làm việc tạm thời trong một thời gian ngắn hạn.
Trong hợp đồng trên ghi rõ rằng “thời hạn lao động là 10 tháng VÀ triển hạn hai lần, mỗi lần 10 tháng”, có nghĩa là người công nhân trong hợp đồng được bảo đảm sẽ được làm việc ở Mỹ tới 30 tháng.
2/Các khoản phí : chuyên chở công từ chỗ ở tới nơi làm việc $85/tuần; chỗ ở $125/tuần; phí điều hành $2/giờ đã ngốn gần hết lợi tức của công nhân. Nếu công nhân làm việc 40 giờ/tuần thì cứ mỗi 4 tuần lãnh được $600, trừ các khoản chi phí $390 thì chỉ còn $210. Sau 10 tháng chỉ còn trên tay khoảng $3.000, sau 30 tháng được $9.000. Con số $100.000 lợi tức mà Vinamotor và Interserco vẽ trên quảng cáo rõ ràng là lừa bịp.
Khi tới Mỹ các công nhân đã phải đối diện với một thực tế quá phũ phàng. Xin nghe lời kể của họ dưới đây.
Theo lời anh Ngô Bá Chín nói với phóng viên của nhật báo Houston Chronicle thi “anh không tưởng tượng nổi cuộc đời của anh lại có cái kết cục kinh khủng như thế tại xứ siêu cường này. Anh cứ tưởng sẽ được sống tại một nơi sạch sẽ nhưng họ đã bắt anh ở chung phòng với hai người khác trong một căn hộ ổ chuột đầy gián, thảm nhà thì rách nát dơ bẩn, với tiền nhà là $2.000/tháng, chúng tôi phải trả thêm tiền xe hơi di chuyển tới nơi làm việc (và mỗi tuần đến siêu thị một lần) tới $1.200/tháng”.
Các công nhân khi tới Mỹ hầu như bị cô lập hoàn toàn với xã hội bên ngoài . Họ sống như những ngừời nô lệ trên đất tự do nhất hành tinh này và bị đe doạ rằng vì họ là công dân một nước Cộng Sản nên chớ có tiếp xúc với người Mỹ mà sẽ bị đối xử tồi tệ, kể cả bạo lực. Từ vật chất tới tinh thần họ đã bị đày đoạ như súc vật và ngược đãi như người nô lệ của hợp đồng bởi hai công ty Mỹ và hai công ty ở Việt Nam.
Phần lớn tới Mỹ từ trong khoảng các tháng 3 và tháng 5 năm 2008, và chỉ sau 8 tháng đã bị mất việc vì sắp hết hạn cư trú 10 tháng mà không được hai hãng trung gian là Coast to Coast và ILP xin gia hạn như đã hứa. Các công nhân Việt Nam như bị người ta đem con bỏ chợ, chưa kiếm đủ “sở hụi” đã bị hãng Dynamic Industries, mướn họ qua Coast to Coast và ILP, cho nghỉ việc (vì thời hạn cư trú hết hạn nên dù muốn hãng này cũng không đuợc phép tiếp tục thuê mướn họ nữa).
Khi nội vụ bị phơi ra trước ánh sáng công luận và dẫn đến “cửa quan” thì cả hai hãng đều chối phăng. Coast to Coast thì nói rằng họ không hề biết ILP đã hứa với công nhân được làm việc 30 tháng ở Mỹ mặc dầu trên hợp đồng có ghi rõ “Authorized Representative: Mr. Hung Quoc Vu, Chairman of ILP Agency, LLC”, under the authorization of Mr. Ken W. Yarbrough, Jr – Chairman of Coast to Coast Resources, Ltd.”
Mặc dầu thắng kiện, với tiền bồi thường lên đến 60 triệu và nếu chia đều cho 50 người thì mỗi người đều trở thành một triệu phú nhưng trong thực tế, 60 triệu này chỉ có trên giấy tờ vì các bị cáo đã biến mất. Luật sư của hãng Coast to Coast nói rằng hãng đã đóng cửa, còn ông giám đốc ILP, Vũ Quốc Hùng, thì đã lặn mất tăm từ lâu rồi.
Tệ hại hơn nữa là hai hãng Vinamotor và Interserco đã về hùa với Coast to Coast và ILP, gửi thư “cảnh cáo” tới từng công nhân, đe doạ nào là “một số lao động đã bị kích động nên không muốn trở về nước, hiện tại một số lao động đã tham gia kiện cáo công ty sử dụng lao động (công ty Coast to Coast) và việc này gây ra những khó khăn liên quan đến chính trị cũng như ảnh hưởng đến mối quan hệ giữa Việt Nam và Hoa Kỳ”, nào là: “Tình hình sẽ không có lợi cho người lao động khi ra toà án vì đã không tuân thủ luật pháp Hoa Kỳ, cảnh sát sẽ bắt và áp giải về nước…”
Bức thư “cảnh cáo” trên do ông Nguyễn Trí Dũng, Phó Tổng Giám Đốc Công Ty Cổ Phần Xuất Khẩu Lao Động, Thương Mại và Du Lịch (TTLC) ký ngày 12 tháng 4 năm 2009. Công ty TTLC là công ty “con” của công ty Vinamotor.
Đọc bức thư trên không ai nhịn cười nổi về sự dốt nát của ông Dũng (mặc dầu tên ông vừa có Trí vừa có Dũng). Ông Dũng doạ người Việt khi họ còn ở trong nước XHCN thì đuợc, chứ sang tới cái nước tự do này mà giở cái trò hù doạ của công an XHCN ra thì chỉ làm trò cười cho thiên hạ. Người ta sắp kiện các ông lên toà Liên Bang về tội buôn bán con người đấy.
Trên thế giới, CS Việt Nam là nước xuất khẩu lao động nhiều nhất. Các công ty xuất cảng lao động đều là các “công ty con”của những công ty quốc doanh “khủng” bất khả xâm phạm. Mỗi năm các công ty này thu về hàng tỷ dollar tiền phí xuất cảng lao động.

Môt báo cáo về nạn buôn bán người (Report on Trafficking On Person) của Bộ Ngoại Giao Mỹ năm 2010, cho biết chính quyền Việt Nam đã buông lỏng cho các công ty xuất cảng lao động, phần lớn Nhà Nước có cổ phần, mặc sức thu phí quá đáng so với các nước xuất cảng lao động khác ở Châu Á, khiến người đi lao động ở nước ngoài lâm vào cảnh nợ nần chồng chất trong khi làm nô lệ cho các công ty nước ngoài.

Công ty Vinamotor là “đấng trên cao” nào?
Vinamotor là Tổng Công Ty Công Nghiêp Ô Tô Việt Nam, liên doanh với hàng chục công ty khác và đang bị đưa lên bàn mổ về tội lừa đảo 10 tỳ đồng của 100 gia đình cho dự án ma “Phân Hiệu Trường Đào Tạo Nghề Cơ Khí GTVT ở Việt Yên. Sau 6 năm chờ đợi dự án trên vẫn nằm khòeo trên bàn giấy của các ông thợ vẽ dự án khiến hàng trăm nạn nhân sống dở chết dở.
Muốn biết cơ sở Vinamotor “hoành tráng” và có bao nhiêu “con” thì chỉ cần vào Google và gõ cái tên Vinamotor là bạn sẽ ngộp thở vì "ấn tượng". Vậy mà con khủng long này sắp bị phá sản đấy.
Công ty Interserco cũng có muôn mặt, kinh doanh thượng vàng hạ cám. Nó nổi tiếng nhờ vụ làm nổ pháo hoa đêm 6/10/2010 ở sân vận động Mỹ Đình (Hà Nội) khiến 2 chuyên viên Đức, một chuyên viên Singapore tử thương và khoảng 3 phần tư số pháo mất tiêu. Ông Nhà Nước phải giả vờ nhân nghĩa rằng “vì nhân dân miền Trung bị lũ nặng nên chính phủ quyết định giảm thiểu số pháo hoa bắn trong đêm Ngàn Năm Thăng Long”.

Cộng đồng người Việt ở Houston đã mở rộng vòng tay đón nhận các nạn nhân của bọn cá mập xuất cảng lao động Việt-Mỹ. Một số tổ chức thiện nguyện đã sốt sắng giúp đỡ họ. Văn phòng luật sư Buzbee và Trường Đại Học South Texas College of Law đang tiến hành thủ tục xin gia hạn cư trú cho họ. Trong khi Lãnh Sự Quán Việt Nam ở Houston thì nhất quyết giả câm giả điếc trước việc công dân của mình bị người ta bắt nạt. Thế thì Sứ quán Việt Nam đại diện cho ai ? Bảo vệ quyền lợi của ai? Hay ông cũng sợ “gây ảnh hưởng xấu đến chính trị và làm hại mối quan hệ giữa Việt Nam và Hoa Kỳ” như ông Nguyễn Trí Dũng, Phó Tống Giám Đốc công ty TTLC?
Nếu toà án phán quyết rằng các công nhân trên là nạn nhân của Nạn Buôn Người thì chắc chắn họ sẽ được ở lại Hoa Kỳ với visa T như trường hợp các công nhân VN ở Samoa trước đây (Visa T cho phép nạn nhân của tệ nạn buôn bán người cư trú và làm việc ở Mỹ có thời hạn).
(Theo Hà Ngọc Cư, © Thông Luận ngày 17/04/2011)


Thành ngữ Trung Hoa qua tem thư

TRIỀU TAM MỘ TỨ (tạm gọi là Sáng nắng chiều mưa)
TRIỀU có nghĩa là buổi sáng, MỘ có nghĩa là buổi tối. Buổi sáng “ba cái“, buổi tối “bốn cái“ có nghĩa là sao?
Nghe kể rằng vào thời Chiến Quốc, có một ông già rất thích khỉ, ông đã nuôi cả một bầy khỉ. Do hàng ngày ông tiếp xúc với khỉ , cho nên ông có thể hiểu được tính tình của khỉ , những con khỉ cũng hiểu được lời nói của ông .
Những con khỉ mỗi ngày đều phải ăn rất nhiều thức ăn . Thời gian lâu dần , ông lão đã nuôi không nổi những con khỉ này nửa , ông phải giảm đi số lương thực của khỉ , nhưng mà lại sợ khỉ không vui . Ông nghĩ đi nghĩ lại , đã nghĩ ra được một cách hay .
Một hôm , ông nói với những con khỉ : “ Ta rất thích các ngươi , nhưng các ngươi đã ăn quá nhiều , tuổi của ta cũng đã lơn , không có cách kiếm tiền , cho nên bắt đầu từ hôm nay , ta phải giảm bớt lương thực của các ngươi rồi. Mỗi buổi sáng chỉ có thể cho các ngươi ba hạt dẻ , buổi tối cho các ngươi bốn hạt dẻ “.
Bầy khỉ vừa nghe ông lão đòi giả bớt lương thực , thì rất không vui , nhảy lọan cả lên . Ô ng lão nhanh chóng nói : ‘ Thôi được , thôi được như vậy đi , buổi sáng ta cho các ngươi bốn cái ,buổi tối cho các ngươi ba cái như thế thì được rồi chứ “
Bầy khỉ vừa nghe buổi sáng cho chúng thêm một cái thì đều rất vui mà nhảy cả lên .
Hiện nay chúng ta dùng TRIỀU TAM MỘ TỨ để hình dung một người thường thay đổi chủ ý , không đáng để người ta tin tưởng , hoặc là những người gạt người khác .


TỰ TƯƠNG MÂU THUẨN (Tự mâu thuẩn nhau)
Cái mâu và cái thuẩn đều là thứ binh khí xưa .Mâu chủ về thế công dùng để đánh phá các thứ bền chắc. Thuẩn chủ về thế thủ, dùng để đở các mủi nhọn .
Có một người ra chợ bán cái mâu và cái thuẩn , anh ta tự khoe :
- Cái mâu này , phàm bất cứ những vật nào đem ra đỡ không một thứ gì mà không bị nó đâm thủng .
- Cái thuẩn này , phàm bất cứ những vật nào đem ra đâm nó , nó cũng không bao giờ bị thủng
Lúc đó có người hỏi anh ta :
-Lấy cái mâu của anh đâm vào cái thuẩn của anh thì sẽ ra sao ?.
Người ấy không trả lời được . Cho nên người ta nói hoặc làm việc gì , nếu không trù tính xem xét chu đáo , thì có khi lại tự mâu thuẩn lấy mình vậy .

NGU CÔNG DI SƠN (Ngu Công dời núi )
Có một gia đình sống trong một ngôi làng ở Trung Quốc .Gia đình này có một cụ già đã 90 tuổi , gọi Ngu Công . Phía trước ngôi làng của họ có hai ngọn núi lớn , cản trở con đường vào làng của họ . Khi họ vào làng phải bọc qua ngọn núi lớn rất bất tiện . Một hôm , Ngu Công nói với gia đình ông rằng :
-“Hai ngọn núi lớn ở phía trước làng chúng ta thật bất tiện , tại sao chúng ta lại không san bằng hai ngọn núi đó chứ? ”.
Vợ của Ngu Công nói : -“Bằng sức lực của mấy người chúng ta , có thể san bằng 2 hai núi đó chăng ?”.
Ngu Công nói :
-“Chúng ta có thể đào từ từ , sẽ có một ngày có thể san bằng quả núi ” .
Mọi người trong gia đình đều bị ông thuyết phục cả . Ngày hôm sau họ bắt đầu đào núi .
Trong làng có người thấy vậy , thì hỏi Ngu Công :
-“Ông đã lớn tuổi như vậy rồi , làm sao có thể san bằng hai ngọn núi được , đừng phí sức lực nữa ” .
Ngu Công nói : -“Anh nói cũng đúng . Nhưng mà tôi chết rồi , vẫn còn có con cái , con cái tôi chết rồi , vẫn còn cháu tôi . Con con , cháu cháu liên tục không ngừng , sẽ có một ngày san bằng được hai ngọn núi này ”
Người đó cũng không còn lời để nói nữa . Không ngờ , thần ở trên trời cảm động tinh thần của Ngu Công . Liền phái 2 vị thần có sức mạnh rất lớn trong đêm đã dời hai ngọn núi đó đi .
Hiện nay chúng ta thường dùng thành ngữ NGU CÔNG DỜI NÚI để khích lệ người ta đừng sợ khó khăn , chỉ cần có quyết tâm , chuyện gì cũng làm được .

THỦ CHU ĐÃI THỐ ( Ôm gốc cây mà đợi thỏ )
THỦ CHU là ngồi bên gốc cây , ĐÃI THỐ là đợi thỏ .
Một hôm của hai ngàn năm trước . Một người nông dân của nước Tống lúc đang nhổ cỏ trong ruộng , nhìn thấy một con thỏ phóng nhanh chạy đến và đụng vào một gốc cây to .
Người nông dân nhìn thấy , liền chạy qua đó xem thử . Vừa nhìn con thỏ tội nghiệp đó đã chết rồi . Anh ta liền nhặt con thỏ lên đem ra chợ bán .
Trên đường về nhà anh cầm túi tiền bán thỏ vừa đi vừa nghĩ : Làm việc trong ruộng vất vả như thế , ngồi bên gốc cây đợi nhặt thỏ , việc gì cũng không phải làm , sướng làm sao . ! Nếu như mình một ngày có thể nhặt một con thỏ , số tiền bán được nhiều hơn số tiền mình làm ruộng kiếm được nhiều .
Do đó , anh ta quyết định không nhổ cỏ nữa , ngày ngày ngồi bên gốc cây để đợi thỏ . Ngày thứ nhất thỏ không đến , anh nghĩ ngày thứ hai thỏ nhất định sẽ tới . Lúa trong ruộng của anh ta không có người chăm sóc đã lần lần chết hết . Cuộc sống của người nông dân này ngày càng khốn khổ .
Hiện nay chúng ta dùng THỦ CHU ĐÃI THỐ để chỉ người chỉ biết khư khư dựa vào một kinh nghiệm hạn chế trong quá khứ , mà chỉ biết vọng tưởng không biết biến đổi kịp thời , cuối cùng không biết nỗ lực thì sẽ không có một thành quả gì .


Các loại rượu Trung Hoa
Rượu của người Trung Hoa phần lớn nấu bằng ngũ cốc, thông dụng nhất là rượu gạo mà họ gọi là hoàng tửu (rượu vàng) hay mễ tửu (rượu gạo). Hoàng tửu được cất bằng men lúa mì tức miến cúc hay tiểu cúc. Người Trung Hoa vẫn đặc biệt coi trọng những loại rượu chỉ cất nguyên chất bằng gạo mà thôi, không pha chế thêm gì khác. Rượu cất theo lối cũ chỉ có chừng 15-16% alcohol và phải mất một thời gian chừng ba tháng từ khi bắt đầu sửa soạn gạo tới khi nấu xong. Rượu nấu xong còn phải để từ 6 tháng tới 1 năm trước khi đem ra bán trên thị trường. Cứ 100 kg gạo thì người ta có thể nấu được 230 kg rượu.Ngày xưa, người ta thường tự nấu lấy rượu để uống trong nhà nhưng hiện nay rượu trở thành một loại kỹ nghệ quan trọng sản xuất tại những hãng rượu sử dụng nhiều chuyên viên được huấn luyện kỹ càng. Rượu gạo cũng được xuất cảng sang những quốc gia khác, nhất là những nơi có đông Hoa kiều cư ngụ.
Rượu Tàu được chia thành nhiều loại khác nhau, tùy theo cách nấu, lượng đường, cách ủ và loại men dùng để nấu. Phương thức thông dụng nhất là chia ra thành năm loại tùy theo lượng đường chứa trong rượu. Lượng đường đó khác nhau tùy theo cách nấu, được gọi là rượu mạnh (không có vị ngọt, tức dry wine), rượu nhẹ nhưng không ngọt (semi-dry), rượu có một phần ngọt (semi-sweet), rượu ngọt (sweet) và rượu thật ngọt (extra-sweet). Về cách chế tác, gạo đồ thành xôi, có thể để nguội trước khi trộn men hay trộn men khi còn nóng. Cách làm nguội cũng có thể bằng nước lạnh hay chỉ để ngoài trời cho hạ nhiệt độ. Ðôi khi người ta cũng dùng rượu cũ, đã cất từ lâu, bỏ thêm men để thành rượu mới. Cách này có thể làm nồng độ rượu lên cao hơn 20%. Cũng tùy theo loại men, người ta có thể có những sản phẩm khác nhau. Men có thể làm bằng lúa mì, lúa nếp, hay men bào chế bằng hóa chất.
Người Trung Hoa phân biệt rượu theo tên gọi. Theo Ẩm Thiện Tiêu Ðề thì rượu có những loại : thanh, trọc ,hậu ,bạc ,cam, khổ ,hồng ,lục ,bạch chi biệt (nghĩa là chia làm trong đục, đặc loãng, ngọt đắng đỏ xanh trắng khác nhau). Rượu trong gọi là tiêu, trong mà ngọt thì gọi là dĩ, đục mà trắng thì gọi là áng, cũng gọi là lao, đục mà hơi xanh thì gọi là trản, đặc thì gọi là thuần hay nhu, nặng thì gọi là nhĩ, loãng thì gọi là li, ngọt thì gọi là lễ, ngon thì gọi là tư, đắng thì gọi là thiện, đỏ thì gọi là thể, xanh thì gọi là linh, trắng thì gọi là ta. Về tên riêng của rượu, người ta cũng đặt cho rượu nhiều cái tên nghe rất kêu như Ðộng Ðình Xuân, Kiếm Nam Xuân, Tường Vi Lộ. Trương Năng Thần đời Tống trong tác phẩm Tửu Danh Ký có chép đến hơn một trăm loại rượu khác nhau. Phùng Thời Hóa đời Minh cũng ghi lại trong cuốn Tửu Sử rất nhiều tên của những loại rượu của từng địa phương.
Về rượu nho, người Tàu chỉ biết đến khi người từ Tây Vực đem tới trung nguyên. Sách Hậu Hán Thư có chép là Nước Lật Dặc (Arab) có loại trái cây, vắt nước có vị ngon, làm rượu gọi là rượu bồ đào . Người phương Tây đã biết làm rượu bằng trái nho (wine) từ thời cổ. Sách Cựu Ước (Old Testtament) đề cập đến rượu tới 155 lần và người Hebrews đã từng tiếc rẻ không mang được rượu Ai Cập khi họ đi di cư. Người Hi Lạp thời cổ cũng uống rượu và chính những thần minh trong huyền sử cũng đều thích uống rượu và ưa gái đẹp. Tuy đã biết đến rượu bồ đào từ đời Hán, mãi tới đời Ðường (640 sau TL), khi Ðường Thái Tông đem quân đánh nước Cao Xương (nay thuộc Tân Cương) người Trung Hoa mới học được phép làm rượu nho.
Về những đặc sản, mỗi vùng có một loại rượu nổi tiếng, có cách thức chế biến khác nhau. Ngoài những loại rượu thông dụng mà người Trung hoa học của Tây phương gần đây, họ có những loại riêng đã nổi tiếng từ lâu như sau:

Ô Trình tửu: Sản xuất tại Ô Trình, nay thuộc huyện Ngô Hưng, Chiết Giang, vẫn được thiên hạ cho rằng đây là loại rượu ngon hạng nhất của Trung Hoa (thiên hạ đệ nhất Ô Trình tửu). Rượu Ô Trình đã đi vào lịch sử vì xuất phát từ một câu truyện tình vừa thơ mộng vừa gian nan của một vương tôn như đã chép ở trên.
Phần tửu: Ðược người đời gọi là cam tuyền giai nhưỡng hay dịch thể bảo thạch, Phần tửu là rượu ngon của đất Sơn Tây, và cũng là một loại rượu danh tiếng của Trung Hoa đã có hơn 1500 năm. Rượu Phần có mùi thơm, uống vào có hậu vị, được nấu bằng cao lương nổi danh của thôn Hạnh Hoa và nước suối Cam Tuyền.
Thiệu Hưng tửu: là một loại rượu nếp nổi tiếng nhất của Trung Hoa. Hiện nay người Tàu đã cải tiến phương pháp nấu để trở thành một kỹ nghệ quan trọng dùng nhiều loại gạo khác nhau, trong đó có gạo nếp (nhu), men rượu làm bằng gạo hay lúa mạch. Rượu Thiệu Hưng phải để ít nhất là ba năm mới cho vào bình, thường hâm lên trước khi uống. Nếu rượu để trên 5 năm, người ta gọi là Trần Niên tửu (nghĩa đen chỉ là rượu lâu năm), hương càng nồng và thơm. Cũng có sách chép là rượu Thiệu Hưng nấu cho khi sanh con trai thì gọi là Trạng Nguyên Hồng, cho con gái thì gọi là Nữ Nhi Hồng, dùng trong dịp đội mũ hay cài trâm (là một lễ khi đã họ đến tuổi trưởng thành).
Hồng Lộ tửu: Vốn là đặc sản của hai đất Mân Ðài (Phúc Kiến và Ðài Loan), hương rất thơm, vị lại ngon. Rượu này dùng gạo nếp trộn với gạo đang lên men, ủ kín, sau đó mới cất vào bình tàng trữ trong khoảng từ 3 đến 8 năm. Rượu càng để lâu càng đậm đà nên người ta gọi là Bát Niên Hồng Lão tửu.
Phúc tửu: Là loại rượu cất theo phương pháp của tỉnh Phúc Kiến, dùng gạo nếp, tiểu mạch, sau khi nấu xong phải bỏ thịt gà vào ngâm, để một năm trước khi cho vào bình.
Hoàng tửu: dùng loại gạo ngon có tên là Bồng Lai và tiểu mạch để cất rượu. Rượu trong và nồng, sắc óng ánh như hổ phách, thường hâm nóng trước khi uống.
Lệ Chi tửu: Là loại rượu mới chế tạo từ trái vải tươi ở Ðài Loan. Vải bóc vỏ, bỏ hột rồi mới dùng để cất rượu. Lệ chi tửu thơm và trong. Ngoài ra người ta còn dùng phượng lê, chuối tiêu, dương đào, quất tử ( trái tắc) ép lấy nước để cất rượu nhẹ, dùng như một loại giải khát.
Hoa điêu tửu: Gốc từ rượu Thiệu Hưng tỉnh Chiết Giang, đã có từ nhiều ngàn năm và là một loại danh tửu của Trung Hoa. Người ta chọn loại gạo ngon nấu thành rượu, để lâu có màu vàng, khi hâm lên mùi rất thơm. Theo Lâm Ngữ Ðường, ông giải thích hoa điêu tửu cũng chỉ là rượu Thiệu Hưng nhưng là một loại rượu mà người ta nấu lên khi sanh một đứa con gái, để sau này khi cô ta đi lấy chồng sẽ đem ra đãi khách và hoa điêu chỉ để miêu tả những hình vẽ trang trí trên bình rượu hơn là loại rượu.

Trên đây là những loại rượu nguyên chất. Ngoài ra còn một số loại rượu cũng nổi danh nhưng đã được tái chế từ rượu nguyên thủy, pha thêm những chất khác nên được gọi là hợp thành tửu. Có rất nhiều loại khác nhau nhưng nổi tiếng nhất có thể kể trúc diệp thanh, ngũ gia bì, mai khôi lộ ( sau thường viết trại thành mai quế lộ ), hổ cốt tửu, sâm nhung tửu, ô kê tửu, mao đài tửu, ô mai tửu, long nhãn tửu
Trúc diệp thanh: là rượu nổi tiếng đất Sơn Tây, nấu bằng cao lương, tiểu mạch và đậu xanh cùng một số dược thảo. Sau khi thành rượu lại đem ngâm thuốc bắc và lá tre. Màu rượu xanh nhạt, mùi thơm. Uống vào nhẹ nhàng không gắt.
Ngũ gia bì: Dùng cao lương nấu với thuốc bắc, thêm mật ong, mạch nha. Giả Tư Hiệp đời Hậu Ngụy trong sách Tế Dân Yếu Thuật có chép là dùng vỏ cây ngũ gia (ngũ gia bì) cùng với thuốc ngâm rượu có thể làm cho thân thể khỏe mạnh .
Mai khôi lộ: Mai khôi là một loại hoa hồng dại, được hái về trộn chung với cao lương để cất rượu. Hoa phải được hái vào sáng sớm để còn những hạt sương đọng trên cánh hoa (vì thế nên gọi là mai khôi lộ -- lộ là hạt sương) và là một loại danh tửu của Trung Hoa.
Hổ cốt tửu: Dùng rượu trắng để ngâm thuốc bắc (trong có vị hổ cốt tức xương cọp) có thể trừ được bệnh đau nhức, phong thấp.
Sâm nhung tửu: dùng lộc nhung, nhân sâm và nhiều loại thuốc bắc ngâm rượu.
Ô kê tửu: dùng gà ác và thuốc bắc ngâm trong rượu, dùng cho phụ nữ khi thai sản.
Mao đài tửu: chỉ mới nổi tiếng trong khoảng 100 năm nay được nhiều người biết đến từ khi Mao Trạch Ðông đãi tổng thống Mỹ Nixon trong chuyến Hoa du năm 1972. Tương truyền đời vua Khang Hi, đất Phần Dương Sơn Tây, có một người lái buôn tên là Giả Phú rất thích uống Phần tửu. Một hôm y đi xuống miền nam, đến Quí Châu nhưng ở đây lại không có rượu ngon để uống. Giả Phú trở về mướn một người chuyên cất Phần tửu xuống thôn Hạnh Hoa thôn, huyện Nhân Hoài, tỉnh Quí Châu (nay đổi là Mao Ðài trấn) dùng thổ sản nấu theo phương pháp miền bắc, người ta gọi là rượu Mao Ðài. Mao Ðài chủ yếu dùng đậu nành, cao lương, tiểu mạch, vị hơi ngọt và trong. Phương pháp nấu phức tạp và phải ủ với nhiệt độ cao. Rượu Mao Ðài uống cạn ly để qua đêm vẫn còn thơm.
Ô mai tửu: dùng mơ và mận tươi cất thành rượu. Khi nấu xong đem trà ô long ngâm và thường được dùng ướp lạnh hay trong các loại cocktail.
Long nhãn tửu: hay quế viên tửu, dùng nhãn để nấu rượu, vị ngọt.

Những người sành uống rượu quí trọng những loại rượu ngon không phải ít. Nhiều chai rượu quí đã có thể bán đấu giá với những số tiền khiến người ta phải rùng mình.
(Theo http://blog.360.yahoo.com/blog-RZhPY...TpA--?cq=1&p=1)


Von: Thoai Binh Goh <gohthoaibinh@yahoo.com.vn>
Creative mother took pictures of her baby daughter. Enjoy!

Von: Thoai Binh Goh <gohthoaibinh@yahoo.com.vn>

Hòa thượng Nhất Hạnh trong danh sách 100 nhân vật có ảnh hưởng tâm linh nhất thế giới
100 Spiritual Power List by Watkins

Hôm 1-3-2011 qua, nhà xuất bản Watkins Books tại thủ đô London (Anh quốc) đã phát hành ấn phẩm Mùa Xuân Watkins Review, số 26, trong đó, ban Biên tập đã thiết lập danh sách của 100 nhân vật hiện nay còn sống, và đang có ảnh hưởng tâm linh lớn nhất trên thế giới. Cứ mỗi ba năm, Watkins Books lại cập nhật danh sách một lần để gửi đến 30.000 độc giả chọn lọc của nhà xuất bản.
Việc chọn lựa những tác giả và các giảng sư tâm linh, mà những đóng góp của họ trong lãnh vực tâm linh (và xây dựng ý thức tâm linh) đã tác động rộng rãi trên thế giới, là một quá trình không đơn giản.
Khi thiết lập danh sách nầy, Watkins Books đã căn cứ 3 yếu tố chính trong nhiều yếu tố là:
- Nhân vật đó hiện đang còn sống.
- Nhân vật đó phải đóng góp đặc thù trong lãnh vực tâm linh và có tác động toàn cầu.
- Tên (hoặc hoạt động) của nhân vật đó được rất nhiều người tìm kiếm trên Google (hiển thị trong danh sách Nielsen Data quốc tế) và xuất hiện thường xuyên trong thế giới blogosphere.
Danh sách trong Ấn bản 2011 nầy có một số đặc điểm sau đây:
- Về giới tính thì 76% là đàn ông và 24% là đàn bà.
- Tuổi trung bình là 67 tuổi. Già nhất là Thiền sư Nhật bản Kyozan Joshu Sasaki, 104 tuổi, trụ trì một Thiền viện tại Mỹ. Trẻ nhất là tiến sĩ Vật lý Thiên thể học người Anh Jeff Foster, 30 tuồi, bỏ nghề và chu du khắp thế giới để xiển dương một cuộc sống “giác ngộ tâm linh”.
- Nhân vật đứng đầu bảng là ông Eckhart Tolle (63 tuổi, gốc Đức, ngụ tại Vancouver), tác giả của 2 cuốn sách nổi tiếng The Power of Now (Sức mạnh của tĩnh lặng, đã được Thiền sinh Nguyễn Văn Hạnh dịch ra tiếng Việt) và A New Earth (Một địa cầu mới). Không cổ súy cho một tôn giáo nào tuy có vận dụng một số phạm trù triết học Phật giáo, ông Eckart Tolle chỉ triển khai hiện tượng biến đổi của ý thức như một tỉnh thức tâm linh mà ông cho là bước tiếp theo trong quá trình tiến hóa của con người.
- Nhân vật thứ nhì là Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 14, người Tây Tạng.
- Nhân vật thứ ba là tiến sĩ Wayne W. Dyer, một chuyên gia Mỹ về kỹ thuật tư duy tích cực (positive thinking) và hiện đang diễn giảng Đạo Đức Kinh của Lão Tử.
- Nhân vật thứ tư là Thiền sư Thích Nhất Hạnh, người Việt Nam.
- Nhân vật thứ năm là diễn giả và tác giả Mỹ gốc Ấn Độ Deepak Chopra. Ông nguyên là một bác sĩ Sinh học Nội tiết (endocrinologist), nhưng sau đó chuyển qua nghiên cứu và thực hành ngành y khoa lấy quan hệ giữa thân và tâm làm phương pháp điều trị. Các tác phẩm rất thành công của ông là Ageless Body (Thân thể không già), Timeless Mind (Tâm thức phi thời gian) và The Seven Spiritual Laws of Success (Bảy định luật tâm linh để Thành công).
Năm nhân vật tiếp theo trong Top-Ten của danh sách 100 vị nầy là nữ tác giả Mỹ Louise Hay, nhà văn Brazil Paulo Coelho, nữ điều hợp viên chương trình đàm thoại truyền hình Mỹ Oprah Winfrey, triết gia Mỹ về tiến hóa tâm linh Ken Wilber, và nhân vật thứ mười là nhà nữ sản xuất truyền hình Úc Rhonda Byrne.
Ngoài ra, trong số 90 nhân vật còn lại của danh sách nầy, cũng có một số trường hợp đáng lưu ý:
- Nhà làm phim người Chile Alejandro Jodorowsky đứng thứ 14. Những phim của ông thường mang nội dung tâm linh sâu sắc với một thông điệp xã hội rất tiền phong (avant garde) như El Topo (1970), The Holy Mountain (1973) và Santa Sangre (1989). Ông cũng đã thực tập Thiền quán một thời gian dài.
- Nhà cách mạng chống kỳ thị màu da Apartheid và trở thành Tổng thống Nam Phi Nelson Mandela đúng thứ 19.
- Tác giả Mỹ John Gray đứng thứ 24. Ông là tác giả của 17 cuốn sách đào sâu mối quan hệ phức tạp giữa người và người, mà tác phẩm nỗi tiếng nhất là Men are from Mars, Women are from Venus (1992)
- Tổng Giám mục Anh giáo Desmond Tutu đứng thứ 28. Ông là khôi nguyên giải Nobel Hòa Bình 1984, người Nam Phi, nỗi tiếng với lời tuyên bố: “Khi người da trắng đến, họ có cuốn Kinh thánh và chúng tôi có đất đai. Họ bảo chúng tôi nhắm mắt cầu nguyện Chúa. Khi mở mắt, chúng tôi có cuốn Kinh thánh, còn họ thì có đất đai của chúng tôi”.
- Giáo hoàng Biển Đức thứ 14 (Benedict XIV, tên đời là Joseph Alois Ratzinger trong danh sách), vị chủ chăn của giáo hội Công giáo La Mã, đứng thứ 34.
- Tác giả Mỹ Dan Brown đứng thứ 42. Hai tác phẩm The Da Vinci Code và Angels and Demons, hư cấu về những âm mưu thâm cung bí sử của Giáo hội Công giáo La Mã, đã được dịch ra 28 thứ tiếng và tổng số ấn bản lên đến gần 100 triệu cuốn, chưa kể cả tỉ người đã xem hai cuốn phim phỏng theo truyện nầy.
- Nữ giáo sư ngành tôn giáo tỷ giảo người Anh Karen Armstrong, đứng thứ 53. Bà chủ xướng hòa đồng tôn giáo trên thế giới. Là một nữ tu sĩ Công giáo cởi áo, bà rất khắt khe với Giáo hoàng và giáo hội Công giáo La Mã. Ngoài những tác phẩm viết về Thiên Chúa giáo, Hồi giáo, Do Thái giáo,… bà đặc biệt nổi tiếng với tác phẩm Buddha (2001), viết về cuộc đời của Đức Phật Thích Ca lịch sử, để tặng em gái của bà là một Ni sư tu theo Phật giáo Đại thừa.
- Tác giả người Anh Stuart Wilde đứng thứ 66. Ông viết và thường đi thuyết trình về các đề tài Siêu hình học và Ý thức Nội tại. Ông đã viết 20 cuốn và được biết đến nhiều nhất là tác phẩm The Taos Quintet: Miracles, The Force, Affirmations, The Quickening
- Lạtma Tây Tạng Sogyal Rinpoche đứng thứ 82. Ngài là sáng lập viên Hệ thống Mật viện Quốc tế Rigpa, gồm hơn 100 trung tâm trên 23 quốc gia. Ngài cũng là tác giả cuốn sách nỗi tiếng The Tibetian Book of Living and Dying, được dịch ra 30 thứ tiếng và phát hành trong 56 quốc gia.
(Xin đọc toàn bộ danh sách 100 nhân vật nầy tại http://www.watkinsbooks.com/review/watkins-spiritual-100-list)
Nói chung, nhìn vào các nhân vật được liệt kê, ta thấy đa số đều là những học giả và hành giả tìm về, hoặc chịu ảnh hưởng của, đạo học Đông phương, mà Phật giáo là dòng chảy chính. Dòng chảy đó đã được vận dụng như khuynh hướng chủ đạo để vừa giải quyết các vấn nạn tâm linh vừa đề bạt một con đường sống sinh động mà an bình trong thời đại hôm nay.
Trí Tánh ĐHT (Viết theo Watkins Review , 3/2011)


Tác quyền bị độc quyền - Consumer Watchdog Mỹ hoan nghênh
Bộ Tư pháp HK từ chối lập thư viện toàn cầu Google
Tại HK, bộ Tư pháp (hôm 22-3) đã ra quyết định bác bỏ sự thoả hiệp được ký kết giữa tập đoàn tin học Goolge và các tác giả cùng các nhà xuất bản Mỹ, liên quan đến dự án lập thư viện toàn cầu, cụ thể là số hóa các tác phẩm sách để rồi đưa lên mạng tin học. Phí tổn đầu tư cho dự án này từ 150- 200 triệu USD. Theo thẩm phán liên bang Denny Chin của thành phố New York, thì thỏa thuận nói trên "không công bằng, không thích hợp và không hợp lý".
Từ tháng 1-2004, tập đoàn Google đã thông báo về ý định thực hiện dự án lập thư viện toàn cầu trên mạng, tiến hành số hóa khoảng 15 triệu cuốn sách trong vòng 6 năm. Đó là những cuốn sách đến từ 4 thư viện danh giá của HK và Anh. Ban đầu, Google cho biết là người sử dụng Internet có thể tham khảo toàn bộ các tác phẩm được đưa lên mạng, nhưng không thể tải về, lưu giữ hay in ra. Tuy nhiên, điều này gây lo ngại cho các tác giả và các nhà xuất bản trước nguy cơ bị vi phạm tác quyền.
Vào 2005, Google bị kiện và đến 2008, tập đoàn tin học khổng lồ đã đạt được thỏa thuận với Hiệp hội các tác giả và Hiệp hội các nhà xuất bản Mỹ, theo đó, Google sẽ trả 125 triệu USD cho các tác giả mà tác phẩm của họ được số hóa đưa lên mạng mà không phải xin phép. Thỏa thuận cũng dự tính thành lập một Quỹ viện về tác quyền, bảo đảm thu nhập cho các tác giả của những cuốn sách được Google số hóa đưa lên internet.
Nếu thỏa hiệp được chấp thuận, thì Google sẽ đưa lên mạng khoảng 20% tổng số sách liên quan. Người sử dụng internet phải trả tiền thì mới có thể tiếp cận được toàn bộ tác phẩm. Số tiền thu được sẽ rót vào Quỹ tác quyền.
Thế nhưng, theo giới chức Tư pháp HK, thỏa thuận có nguy cơ dẫn đến việc Google tiến hành sao chụp trên một quy mô lớn những tác phẩm vẫn được giữ tác quyền, mặt khác, nhờ thỏa thuận này, Google có thể kiểm soát, giữ vị trí thống trị thị trường tìm kiếm trên mạng qua các Websites của tập đoàn. Theo Denny Chin, thì thỏa thuận đã gạt bỏ khả năng của các tác giả lựa chọn tham gia dự án của Google đối với từng tác phẩm.
Tập đoàn Google đã lấy làm tiếc về phán quyết của bộ Tư pháp, với lập luận rằng dự án lập thư viện toàn cầu trên mạng tạo cơ hội cho người đọc tiếp cận với hàng triệu cuốn sách rất khó tìm tại Mỹ. Với quyết định này, Google hiện nay chỉ có thể đưa lên mạng các trích đoạn của những cuốn sách vẫn được bảo hộ tác quyền.
Hiệp hội các tác giả Mỹ thì tỏ thái độ bi quan là dự án lập thư viện toàn cầu coi như thất bại. Theo ông Scott Turow, chủ tịch Hiệp hội, thì việc mở cửa cho phép độc giả tiếp cận với những cuốn sách hiếm, không xuất bản nữa, nhờ vào các công nghệ mới, tạo ra những thị trường mới. Đó là một ý tưởng lẽ ra cần phải biến thành hiện thực.
Trong khi đó, Hiệp hội bảo vệ người tiêu dùng Consumer Watchdog lại hoan nghênh quyết định của tư pháp, coi đây là một cú tát trái đối với Google bởi vì, tập đoàn này vẫn hoàn toàn hoạt động trên nguyên tắc là không bao giờ xin phép đăng tải hay xin lỗi khi cần thiết.
Bộ Tư pháp Hoa Kỳ tuyên bố hài lòng với quyết định của thẩm phán Denny Chin, vì thỏa thuận giữa Google và các tác giả, các nhà xuất bản đã làm dấy lên nhiều lo ngại liên quan đến việc tôn trọng luật chống tập trung độc quyền, antitrust và các quyền tác giả.


Xếp hàng dài chờ giành mua iPad II với tụi Mỹ ...
Tại Hoa Kỳ, nhiều người Trung Quốc được trả công 400 USD cho mỗi lần mua thành công máy tính bảng của Apple, vì vậy họ thường đến nơi bán từ chiều hoặc tối hôm trước để giữ chỗ chờ hàng về, dành mua với dân ưa chuộng đồ Trái Táo Apple.
Nick Bilton, biên tập viên tờ New York Times, đã thử nhiều lần đi mua iPad 2 tại Apple Store nhưng không thành công. Mỗi khi anh này bò vô tiệm, nhân viên đều cho biết hàng đã không còn để bán. Sau nhiều lần thất bại, Nick nhận ra rằng nếu không đến sớm từ tối hôm trước thì anh sẽ không có cơ hội mua được sản phẩm này.
Trước các tiệm Apple Store, một nhóm người Trung Quốc lúc nào cũng sẵn sàng có mặt tại đây canh me để khi iPad 2 chuyển về, họ sẽ là những người mua đầu tiên. Họ chấp nhận đứng trong đêm lạnh giá để mong nhận được khoản tiền hoa hồng từ những chiếc iPad 2 mua được.
iPad 2 được lắp ráp tại Trung Quốc và chuyển đến Mỹ đầu tiên. Chúng sẽ được mua lại, rồi chuyển về Trung Quốc, Việt Nam... và bán lại với mức giá cao hơn nhiều so với giá trị thực. Trường hợp này cũng xảy ra với điện thoại iPhone. Tuy nhiên, việc máy tính bảng iPad 2 đang thiếu hàng nghiêm trọng đã khiến cho sản phẩm đội giá cao hơn nhiều.
Khi được phỏng vấn, tất cả những người Trung Quốc đứng xếp hàng đều từ chối trả lời và chỉ duy nhất một người đàn ông 40 tuổi khẳng định sẽ kiếm được khoảng 400 USD khi mua thành công hai chiếc iPad 2.
Rất nhiều người Mỹ đã không mua được iPad 2 ngay trên đất của họ vì người Trung Quốc đã xếp hàng dài trước đó. Christian Del Moral, một thành viên trên Twitter, than thở: "Tôi thực sự rất muốn sở hữu iPad 2. Nhưng điều này dường như không thể khi có đến hàng trăm người Trung Quốc đang đứng ngay trước cửa Apple Store ở New York".



Garden Grove tóm bắt băng đảng tội phạm Mỹ gốc Việt
Garden Grove (NV) - Cảnh sát Garden Grove vừa tóm bắt 5 thanh niên nghi can gốc Việt và truy nã một tên khác, tịch thu một số vũ khí, tang vật cùng tiền mặt trị giá hàng chục ngàn USD, sau một vụ bố ráp hôm 20-4 liên quan đến một vụ băng đảng bắn nhau chết người xảy ra cách đây một tháng.
Người bị truy nã được cảnh sát coi là kẻ chủ mưu, chỉ mới 17 tuổi, theo thông cáo của cảnh sát Garden Grove. Tiếp xúc với phóng viên nhật báo Người Việt qua điện thoại, Trung úy Jeff Nightengale, phát ngôn Sở Cảnh sát Garden Grove, xác nhận: “Chúng tôi đang ráo riết truy lùng Benjamin Dinh Nguyen, người mà kết quả điều tra cho biết hắn chính là hung thủ chủ mưu vụ giết người xẩy ra tại Garden Grove cách đây một tháng.”
Một đoạn trong thông cáo báo chí cảnh sát cho biết: “Kẻ chủ mưu trong vụ giết người này vẫn còn đang lẩn trốn. Nghi can sinh ngày 6 Tháng Tám, 1993, và được miêu tả là một thanh niên người Á Ðông, 17 tuổi, cao 1 mét 73, nặng 73 kg, tóc đen, mắt nâu.”
Qua cuộc lùng bắt, cảnh sát cũng bắt thêm được tất cả 10 thành viên băng đảng, trong đó có 7 người bị bắt vì tội giết người và 3 người bị bắt vì tội mang vũ khí và ma túy bất hợp pháp. Cảnh sát cũng tìm thấy được 12 khẩu súng, kể cả một shot gun đã được cưa đi, hơn 3,000 viên thuốc lắc và $70,000 tiền mặt.
Năm trong số những người bị bắt là người Mỹ gốc Việt, tên Dung Tin Nguyen (18 tuổi) , Elvis Doan (18), Duy Kim (19), Alex Tran (21) và Aaron Nguyen, 26 tuổi.
Cũng theo thông cáo này, vào quá nửa đêm hôm 20-3, cảnh sát Garden Grove được phái đến giao lộ của đường Harbor và đường Westminster để điều tra một vụ bắn nhau. Giữa lúc nhân viên công lực đang lục soát quanh khu vực, thì một thanh niên 19 tuổi trúng đạn được đưa đến nhà thương và chết ngay sau khi được đưa đến bệnh viện. Trong lúc nhân viên công lực tiếp tục điều tra, lại có tiếng súng nổ, làm nạn nhân thứ hai bị thương và được đưa vào bệnh viện.
Dựa vào kết quả có được từ cuộc điều tra bắt đầu cách đây đúng một tháng, sáng sớm ngày 20 Tháng Tư, nhân viên Sở Cảnh Sát Garden Grove, cùng với hơn 140 nhân viên công lực từ 10 cơ quan khác tại Quận Cam, đã thi hành trát tòa ra lệnh lùng bắt hung thủ tại 14 vị trí trong quận hạt.

Lệnh lùng bắt các hung thủ giết người nhắm vào mục tiêu là hai băng nhóm tội phạm người Châu Á thường xuất hiện tại Quận Cam và Quận Los Angeles. Trước khi có cuộc truy lùng này, cảnh sát bắt giam 3 nghi can tội giết người, và cho đến hôm nay, thì tất cả là 10 thanh niên, tuổi từ 17 đến trưởng thành.
Cảnh sát Garden Grove cho biết tòa án đã ra một “lệnh bắt hung thủ sát nhân” cho Benjamin Dinh Nguyen với tiền thế chân lên tới $1 triệu, và kêu gọi bất cứ ai biết chỗ ở của hung thủ, xin gọi cho cảnh sát ở số điện thoại (714) 741-5704.

"Để nhớ lại một thời đau khổ trong chế độ ..."

Người Hoa tại Việt Nam....
Trong lịch sử cận đại, người Hoa ở Việt Nam, cũng như tại các quốc gia khác trong vùng Đông Nam châu Á, đã phát triển nhiều nét đặc thù của cộng đồng này.

Thứ nhất, với khuynh hướng thích làm thương mại và khả năng làm việc cần cù, người Hoa đã tạo được vị trí và ảnh hưởng lớn trong nền kinh tế Việt Nam. Đa số người Hoa thường gởi tiền về giúp gia tộc ở lục địa.
Thứ hai, người Hoa gìn giữ văn hoá gốc và tương trợ đồng hương bằng cách mở trường học, bệnh viện, câu lạc bộ thể thao và làm báo. Theo tài liệu của Chan Wen-ho (26) và ban biên tập “Kỷ yếu Thương mại của người Hoa tại Việt Nam”, trước năm 1975, năm bang Quảng Đông, Phúc Kiến, Triều Châu, Hẹ và Hải Nam tại vùng Sài Gòn – Chợ lớn có tất cả 11 tờ báo, 166 trường học. Ngoài bệnh viện Sùng Chính phục vụ tất cả cộng đồng Hoa kiều, người Hoa còn có 5 bệnh viện khác phục vụ người của năm bang chính, lớn nhất là bệnh viện bang Quảng Đông, 912 giường, và nhỏ nhất là bệnh viện cho Hoa kiều bang Hải Nam, 40 giường.
Thứ ba, người Hoa thường chọn lập gia đình với người Hoa.
Thứ tư, không có nhiều người Hoa trong bộ máy quyền lực một phần vị họ không có người làm chính trị, phần khác họ thuộc nhóm ít người. Quốc hội VNCH có 5 nghị viên người gốc Hoa nhưng không thực sự có ảnh hưởng. Theo King C. Chen, giáo sư Khoa học Chính trị và Chính trị châu Á ở đại học Rutgers (New Jersey), người gốc Hoa cũng không đào tạo tướng lãnh. Khái niệm cổ của văn hoá Trung Quốc cho rằng “Hảo tử bất tòng binh” (con trai có hiếu không nhập ngũ) và nếu phải thi hành quân dịch ở Việt Nam họ thường chạy chọt, hối lộ để trốn tránh hay chỉ làm lính kiểng, không tham chiến. Một điểm cần ghi ở đây, người gốc Hoa ở miền Nam đã tham gia và lãnh vai trò chỉ huy, tuy không nhiều, trong quân lực Việt Nam Cộng Hoà. Điển hình là Phó Đề Đốc Diệp Quang Thủy, Tham Mưu Trưởng Bộ Tư Lệnh Hải Quân (1975) và Thiếu Tướng Chương Dzềnh Quay, Tham Mưu Trưởng Quân Đoàn IV (1975).
Về mặt chính trị, tỉ số người Hoa ủng hộ chính phủ VNCH tăng vụt sau 1965. Trước đó, khoảng 50% của gần 1,3 triệu người Hoa ủng hộ chính phủ Sài Gòn. Sau 1965, nhất là sau cuộc Tổng công kích Tết Mậu Thân 1968, số người Hoa chống cộng tăng lên mức 75-80% (27). Lý do cho thay đổi này khá đơn giản. Người Hoa, cũng như người miền Nam Việt Nam, trong khoảng thời gian 1965-1968, đã có nhiều cơ hội quan sát và trải nghiệm thế nào là chính sách của cộng sản.
Dù là một cộng đồng thiểu số có tổ chức chặt chẽ về mặt văn hoá, xã hội nhưng người Hoa chủ trưởng thuyết phục thay vì kiểm soát ứng xử, quan điểm chính trị của người cùng bang. Do đó, ngoài đại đa số ủng hộ chính phủ VNCH, trong cộng đồng người Hoa, nhất là ở khối thanh niên, một thiểu số vẫn theo cộng sản, tham gia vào các vụ ám sát, hù doạ, và chiến tranh du kích trong nội thành Sài Gòn – Chợ Lớn.

Sau 1975
Ngày 30 tháng tư, 1975, khi Cộng sản miền Bắc vào tới Chợ Lớn, đường phố ở đây rợp bóng cờ đỏ sao vàng – năm sao vàng – chào đón đoàn quân đầu tiên của Cộng sản Việt Nam. Người Hoa cũng đem hình Chủ tịch ra chào đón đoàn quân chiến thắng. Trong rừng cờ đỏ năm sao vàng là những bức chân dung nhưng không phải của Hồ Chủ tịch. Họ trương hình Chủ tịch Mao Trạch Đông (Mao Zedong) đón quân đội Nhân dân Việt Nam. Chính quyền Cộng sản Việt nam sẽ một lần nữa thấy mức độ đồng cảm của người Hoa vào năm sau đó.
Một trong những việc đảng Cộng sản Việt Nam đặt ưu tiên thực hiện sau tháng Tư 1975 là chuyển đổi nền kinh tế tư bản và gia tăng sản xuất nông nghiệp. Đời sống và ảnh hưởng kinh tế của người Hoa đương nhiên nằm trong tầm ngắm của chính quyền Hà Nội. Việc đảng Cộng sản Việt Nam thanh toán khối tài sản đáng kể và đổi thân phận, địa vị xã hội của người Hoa là điều không thể không xảy ra. Tiên đoán được thái độ của chính quyền Hà Nội, một số ít người Hoa đã cùng đoàn người có phương tiện đã di tản ra nước ngoài trước ngày 30 tháng Tư, 1975.
Chiến dịch Đánh Tư sản Mại bản – Chuẩn bị thanh toán tài sản của người Hoa ở Việt Nam ngay sau khi vào tới Sài Gòn, chính quyền cộng sản, vào tháng Bẩy, tháng Tám 1975, đã quy tụ khoảng vài trăm thanh niên, kể cả sinh viên người Hoa để huấn luyện về lý thuyết đấu tranh giai cấp nhằm mục đích thanh lý tài sản của người giàu, bóc lột, phản động tiểu tư sản mại bản. Tất cả những cự phú người Hoa đều được CSVN xếp vào loại này và phải ghi danh với chính quyền địa phương. Cuộc đấu tố người Hoa bắt đầu ngày 5 tháng Chín tại Sài Gòn – Chợ Lớn và nhiều tỉnh thành khác tại miền Nam. Những cuộc biểu tình và họp dân phố, do chính quyền tổ chức, và báo chí nhà nước, trong năm ngày liên tiếp, triền miên lên án tư sản mại bản đầu cơ tích trữ, buôn lậu vàng và đô-la. Cuộc tấn công giới tư sản người Hoa có hai hiệu quả rõ rệt; một là gây sợ hãi cho những người Hoa giàu có và hai là gây ấn tượng trong giới thanh niên về tương lai của một xã hội cộng sản huy hoàng.
Cuộc đấu tố ngưng để cuộc tổng tấn công chiếm đoạt tài sản người Hoa bắt đầu lúc 10 giờ đêm ngày 9 tháng Chín. Từng đoàn công an cảnh sát võ trang và thanh niên đến chiếm đóng công xưởng, cơ sở thương mại và nhà riêng của những thương gia người Hoa trong vùng Sài Gòn – Chợ Lớn. Thanh niên người Hoa trong đoàn đánh tư sản giữ trách nhiệm nhận diện và thông dịch. Họ kiểm kê không để sót “một cái kim sợi chỉ”, từ đô-la, vàng lá, kim cương, ô tô, tủ lạnh, và cả quạt máy tới bàn tủ. Thương nhân người Hoa hoặc bị bắt đi hay bị tạm giữ một hai ngày.
Sáng ngày 10 tháng Chín, 1975, chính quyền cộng sản ra bản tuyên bố 14 điểm về cuộc “bố ráp” đêm hôm trước. Đó là bản cáo trạng lên án người Hoa, bọn tiểu tư sản mại bản “lũng đoạn kinh tế, độc chiếm thị trường, làm giầu trên xương máu của đồng bào ta.” Bản tuyên bố cũng ghi thêm nhân dân đòi nhà nước phải thẳng tay trừng trị bọn tiểu tư sản mại bản này. (30)
Hai điều 4 và 5 trong bản Tuyên bố của Chính phủ Cách mạng Lâm thời miền Nam Việt Nam (CPCMLTMNVN) cho thấy ý định muốn tịch thu tài sản, vốn đầu tư và cơ sở thương mại của người Hoa, như sau:.
4. Nhà nước sẽ cố gắng hết sức để khuyến khích và giúp giới tư sản đóng góp vốn, kỹ năng và trí tuệ tham gia vào công cuộc xây dựng khu kinh tế mới.
5. Cũng có những trường hợp đặc biệt nhiều nhà tiểu tư sản muốn bán sản phẩm và cơ sở kinh doanh lại cho nhà nước... Nhà nước sẽ nghiên cứu và xét riêng từng tương hơp.
Cùng ngày, người phát ngôn của Uỷ ban Quân quản Thành phố Hồ Chí Minh cũng công bố nhà nước đã ra lệnh bắt giam một số tư sản mại bản “có tội với nhân dân”. Mục xã luận trên tờ Sài Gòn Giải Phóng (SGGP) ngày 10 tháng Chín tuyên bố:
" Bọn tư sản mại bản đã cấu kết với quân xâm lược Mỹ và chính quyền bù nhìn. Máu đồng bào ta đổ càng nhiều thì chúng càng giàu thêm. Chúng đã thành những “ông vua,” như vua gạo, vua giây kẽm gai, vua vải, vua cà phê, vua sắt thép. Tội của chúng lớn tầy đình và không thể nào tha thứ được. Chúng phải “nhất định bị tiêu diệt.” (31)
Ngày 12 tháng Chín lại thêm nhiều thương gia người Hoa bi bắt giam ở Sài Gòn – Chợ Lớn và những tỉnh khác. Tờ SGGP tiếp tục loạt tấn công người Hoa trên báo, đồng thời Đài Hà Nội cũng loan tin người Hoa hân hoan đón chào phong trào đánh tư sản mại bản. (32).
Chiến dịch này ngưng vào đầu tháng Mười, kéo dài gần một tháng. Trên nguyên tắc cả người Việt và người hoa giới tiểu tư sản đều là đích nhắm của cuộc tấn công vừa kể. Trên thực tế, người Hoa chịu nhiều thiệt hại hơn. Chính quyền Trung Quốc chưa khi nào công bố chính xác con số người Hoa bị bắt, bị tịch biên tài sản. Theo Ou Ch’ing-ho (33), trong cuốn The Fall of Saigon (Hsi-kung Lung-wang Chi) xuất bản ở Taipei năm 1979, cho biết nội trong đêm 9 tháng Chín, ít nhất 100 công xưởng của người Hoa đã bị kiểm kê, 250 thương gia người Hoa bị bắt trong chiến dịch đánh tư sản, vài người đã tự tử. Tài sản của những người Hoa không có mặt tại chỗ (đã bỏ đi tị nạn) bị tịch thu tức thời. Những người bị bắt là chủ nhân hay Tổng giám đốc các công ty chế bột ngọt, đồ sắt, bột mì, rạp chiếu bóng, xuất nhập cảng, vải may mặc, giấy, nhà hàng. Đa số những người này đã được phóng thích trước năm 1997 sau khi đã “hiến dâng” tài sản và cơ ngơi.
Một số giới lãnh đạo người Hoa đã rời khỏi Việt Nam vào tháng Tư 1975. Phần còn lại cũng lần lượt ra đi sau tháng Năm 1975. Từ đó khối lãnh đạo người Hoa ở Việt Nam xem như không còn hiện hữu. Chính quyền cộng sản chiếm cứ cơ sở tổng hội quán người Hoa, đóng cửa 11 tờ báo Hoa ngữ, tiếp thu bệnh viện Sùng Chính (đầu năm 1976) và 5 bệnh viện khác của 5 bang vào tháng Giêng 1978.

Hai đợt đổi tiền năm 1975 và 1978
Đợt đổi tiền đầu tiên vào tháng Chín 1975 chỉ xẩy ra ở miền Nam. Lần thứ nhì, vào tháng Năm 1978, nhà nước cộng sản đổi tiền trên toàn quốc.
4 giờ sáng ngày 21 tháng Chín, 1975, chính quyền Tp. Hồ Chí Minh, qua đài phát thanh, thông báo cho dân thành phố phải trở về nhà trước 11 giờ khuya (giới nghiêm từ 11:00 g khuya đến 5:00 g sáng) để chờ thông tin quan trọng của chính phủ. Suốt ngày hôm đó, một số vợ con của cán bộ miền Bắc hối hả đi mua sắm quần áo, thực phẩm, rượu nước ngoài và những hàng tạp hoá khác.
Sau 11 giờ khuya, đài phát thanh công bố giới nghiêm sẽ kéo dài thêm 6 tiếng – đến 11 giờ sáng ngày 22 tháng Chín. Vào lúc 2 giờ sáng ngày 22/09, CPCMLT tuyên bố đổi tiền và sau đó Uỷ ban Quân quản Tp HCM (UBQQTPHCM) giải thích việc tăng giờ giới nghiêm để dân chúng có thời gian chuẩn bị đổi tiền [sic] (34)
Sáng 22 tháng Chín, Ngân hàng Việt Nam tại Tp HCM ra thông cáo đổi tiền nội dung tóm lược như sau:
1. 500 đồng cũ lấy 1 đồng mới.
2. Mỗi gia đình được đổi 100.000 đồng cũ (200 đồng mới) cho tiêu dùng hàng ngày.
3. Những gia đìng có buôn bán được phép làm đơn xin đổi thêm 100.000 đồng cũ
4. Những nhà buôn lớn có thể làm đơn xin đổi thêm tiền từ 100.000 đến 500.000 (tối đa) đồng cũ nếu có nhu cầu thực sự.
5. Tất cả số tiền còn lại từ 100.000 đế 1 triệu đồng cũ phải đến nhà băng đổi và gởi vào trương mục.
6. Cuộc đổi tiền sẽ chấm dứt vào 11 giờ đêm ngày 22 tháng Chín.
7. Vi phạm những điều nêu trên sẽ bị truy tố trước pháp luật. (35)

Chiến dịch đánh tư sản đã tạo áp lực để thương gia người Hoa phải bán rẻ hàng hoá, máy móc, cơ xưởng cho cán bộ miền Bắc lấy tiền cũ. Việc đổi tiền mới này đã đưa người Hoa vào hoàn cảnh khó xử:
(a) Xin đổi thêm tiền từ 100.000 đến 500.000 đồng và gởi vào nhà băng thì họ sợ bị kết án tư sản mại bản.
(b) Giấu tiền cũ, không còn giá trị, vừa vô ích vừa có thể bị truy tố, phạt vạ.
Trong tình cảnh bối rối đó, một số người chỉ đổi một phần tiền bỏ vào nhà băng, phần khác đưa cho bà con, bạn bè đi đổi. Một số khác đổi tiền với cán bộ miền Bắc với giá 1 đồng mới lấy 5000 đồng cũ, số khác đem tiền đi cho, hay đốt. (36)
Kết quả là đa số các cự phú người Hoa, chưa kịp mua vàng hay đô-la trước đó, đã mất cả tài sản qua đêm. Những số bạc người dân phải gởi vào trương mục ngân hàng ra sao? Gần sáu tháng sau chính quyền cộng sản mới cho phép chủ nhân được rút 30 đồng mỗi tháng khỏi trương mục của mình. Và đến tháng 12, 1976, chính phủ ra lệnh không cho dân rút tiền khỏi ngân hàng nữa.
Ngay sau khi đổi tiền, chính quyền Hà Nội cũng ra một nghị định buộc người Việt Nam và người nước ngoài phải khai báo và gởi vào ngân hàng số đô-la hiện có. Quyết định này làm giá chợ đen tăng vọt, ngoài tầm kiểm soát của chính quyền. Hối suất chính thức lúc đó là 1 đô-la đổi 1,5 đồng tiền mới.

Trước khi đổi tiền lần thứ hai vào năm 1978, nhà nước cộng sản Việt Nam còn hai mặt trận khác tấn công dân Việt miền Nam cũng như người Hoa: đánh thuế thật nặng và đuổi đi vùng kinh tế mới.
Đánh thuế nặng – Tháng Sáu, 1976, một nghị định, có giá trị hồi tố, bắt tất cả hàng quán, thương nghiệp kể cả các quầy bán thuốc lá lẻ ven đường, có lợi nhuận trên 10% kể từ tháng Năm 1975 phải đóng thuế 80%, sau đó tăng lên 100%. Nói các khác, nhà nước cộng sản tịch thu 100% tiền lời của tất cả những người buôn bán. Theo tờ New York Times ngày 26 tháng Tám, 1976, mục tiêu của quyết định này nhằm vào “khối tiểu thương, nhưng cái đích thực sự của chính quyền cộng sản là khoảng 1 triệu người Hoa” ở vùng Sài Gòn – Chợ lớn. (37)
Ngoài ra chính phủ Hà Nội còn bắt thương gia đóng thuế trước 4 tháng, từ táng Chín đến tháng Mười hai, 1976. Lúc đó có 3 cấp và 9 bậc thuế; ở cấp bậc cao nhất thương gia phải đóng 13.750.000 đồng tiền cũ. Với cuộc tấn công này, chính quyền cộng sản gần như đã vét sạch hầu bao của người Hoa.
Vùng kinh tế mới – Đây là một chương trình tưởng tượng trong kế hoạch năm năm (1976–1980) của đảng Cộng sản Việt Nam. Hai mục tiêu của chương trình phát triển vùng kinh tế mới là tái phân phối lao động (từ đô thị đông đúc ra vùng đồng không nhà trống), và tạo dựng khu kinh tế sản xuất thực phẩm.
Tại Đại hội Đảng kỳ IV vào giữa tháng Mười hai, 1976, Nguyễn Văn Linh, thành viên Bộ chính trị, Bí thư thành uỷ Tp HCM, tuyên bố, “Trong tương lai gần, khoảng hơn một triệu dân Tp HCM sẽ được định cư ở vùng kinh tế mới... Ngoại ô Tp HCM sẽ được phát triển thành những trang trại khổng lồ cung cấp thực phẩm và rau quả cho cả thành phố.” (38)
Cùng ngày Thủ tướng Phạm Văn Đồng cũng tuyên bố sự phân phối lại lao động lên mức 4 triệu người sẽ bắt đầu vào đầu năm 1977. (39). Phạm Hùng, thành viên bộ chính trị, bí thư đảng bộ miền Nam nói, “Vùng đồng bằng sông Cửu Long là nơi sản xuất lúa gạo và những thực phẩm khác.” (40)
Ngay sau khi chính quyền cộng sản bắt đầu chương trình phân bố lại dân số, dân chúng đã lên tiếng phản đối, cho rằng đây là cách thay đổi dân cư, đem người miền Bắc vào lấy chỗ người miền Nam. Trong cuộc phỏng vấn với tờ Le Monde ngày 16 tháng Tư 1977, Thủ tướng CS Phạm Văn Đồng nói:
"Chúng tôi phải đối phó với thực tế phức tạp cần giải pháp cấp thời để làm cho các đô thị miền Nam bớt đông dân cư và làm sống lại những “vùng trắng” không người canh tác ở miền quê. ... Với Việt nam, vấn đề là chúng tôi vẽ ra chương trình này sao cho hợp lý nhất. Đây cũng là phương án hữu hiệu nhất để quân bằng phát triển công và nông nghiệp của thành thị và thôn quê để tránh xáo trộn về mặt môi sinh và ô nhiễm. (41)
Nhưng những ai là người được đưa đi Vùng Kinh tế mới? Họ từ đâu đến và được chuẩn bị thế nào? Kết quả chương trình này ra sao, và đã ảnh hưởng thế nào đến số người Hoa ở Sài Gòn – Chợ Lớn?

Chuyện kể sau đây của một nhân chứng có lẽ đủ trả lời cho những câu hỏi vừa nêu.
Lm. André Gélinas – ông là một nhà tu người Canada thuộc Dòng Tên (Jesuits), vùng Viễn Đông. André Gélinas đến Việt Nam năm 1957, khi mới 33 tuổi, trong vai trò giáo sư lịch sử Trung Hoa tại Viện Đại học Sài Gòn. Từ 1963 đến 1976, ông là nhân viên của Trung tâm Sinh viên Đắc Lộ. Sau ngày Cộng sản vào Sài Gòn, Lm. Gélinas ở lại Việt Nam thêm 15 tháng trước khi bị trục xuất. Ngày 16 tháng 6, 1977, Lm. Gélinas tường trình trước Uỷ ban Quan hệ Quốc tế, Hạ viện Hoa Kỳ, về tình hình nhân quyền theo thực tế ông đã trải nghiệm trong 15 tháng sống ở Việt Nam sau ngày cộng sản chiến thắng. Lm. Gélinas là người thông thạo tiếng Việt.
Mùa Thu 1976, Lm. Gélinas đã cho Pierre Doublet and Christian D’Epenoux của tờ L'Express của Paris một cuộc phỏng vấn khá dài. Một phần cuộc phỏng vấn được The New York Review of Books đăng lại với tựa đề “Đời sống ở Việt Nam mới (Life in the New Vietnam) ở Tập 24, Số 4, ngày 17 tháng Ba, 1977. Lm. Gélinas viết:
(Sau vụ đổi tiền – TTG) Hàng loạt, nhiều vụ quyên sinh đã xảy ra. Hàng ngàn người bị tiêu diệt, và những người Việt nam tuyệt vọng đã chấm dứt đời mình, vì nghĩ rằng không thể nào sống nổi ở Sài Gòn và phải đi “Vùng Kinh tế mới”
.. trước tiên họ đổi tên Sài Gòn thành Tp HCM. Họ xem dân thành phố là thành phần bị nhiễm độc nhiều hơn người dân quê. Vấn đề là phải phân tán dân đô thị thành nhiểu mảnh nhỏ để dễ kiểm soát ... Công chức, công nhân thành thị, người buôn bán, bất chợt được chế độ đổi đời trở thành những người đi khai khẩn đất hoang – nơi không có bất cứ gì đã chuẩn bị để đón họ.
Dĩ nhiên tuyên truyền của chính phủ hoàn toàn không như thực tế. Báo chí và truyền hình giải thích là dân sẽ có sẵn nước uống, nhà ở chợ búa khi họ đến “Vùng Kinh tế mới”. Người dân Sài Gòn đến “Vùng Kinh tế mới” thường được những chòi lá chuối cột tre chơ vơ trước gió đứng đón. Một tháng trước khi dân thành thị được đưa về “Vùng Kinh tế mới”, sinh viên học sinh đã phải ra những nơi đó dựng chòi bằng bốn cọc tre, dùng lá chuối và lá cây cứt lợn lợp mái. Những mái chòi, không vách với nền làm bằng đất nén, đứng xếp hàng ở một góc đã khai quang của “Vùng Kinh tế mới”.
Nước uống là một vấn đề nghiêm trọng khác ... Đời sống ở đây thật khắc nghiệt ... sốt rét lại xuất hiện tràn lan, và thiếu thốn thức ăn. Chính thức, nhà nước đã hứa cung cấp ba tháng gạo cho những người đi “Vùng Kinh tế mới” trong thời gian đợi mùa gặt tới, nhưng tôi không biết đến bất kỳ một trường hợp nào họ giữ lời đã hứa. ...
Lm. Gélinas cho biết ông đã thấy từng đoàn xe nhà binh mỗi sáng chở người ra khỏi Sài Gòn đến những vùng hoang vu. Mỗi ngày chính quyền Cộng sản đẩy hơn 3.000 người ra khỏi thành phố Sài Gòn. Tính đến tháng Hai 1977 đã có hơn 600.000 người bị đưa về “Vùng Kinh tế mới.”
Fox Butterfield trong bài Hanoi Toughness in South Is Seen”, đăng trên tờ New York Times ngày 12 tháng Hai và 13 tháng Tư, 1977 cho biết, theo con số của chính quyền, tính đến giữa tháng Tư 1977, họ đã đưa 1 triệu người ra khỏi đô thị. (42)
Theo Thông Tấn Xã Việt Nam, chính quyền Hà Nội cho biết 80% dân Sài Gòn không làm ích lợi gì cho nhà nước nên đã được di tản đến “Vùng Kinh tế mới.” Tờ báo này cũng cho biết tổng cộng có khoảng 6 triệu dân đô thị đã đi “Vùng Kinh tế mới”. Người dân đô thị bị đẩy đi gọi đó là “nhữngtrại tù không hàng rào.” (43)
Theo ước tính của người tị nạn trong các cuộc phỏng vấn với giáo sư King C. Chen, và số liệu của các báo cáo ở Hong Kong và tại Mỹ thì tới tháng Năm 1978 đã có khoảng 300.000 đến 350.000 người Hoa vùng Sài Gòn – Chợ Lớn đã bị đưa về các “Vùng kinh tế mới.” Tất cả đều than phiền, chịu không nổi cuộc sống cơ cực. Một số trốn về sống với bè bạn, bà con ở Sài Gòn vì nhà cửa đã bị chính phủ chiếm cứ. Họ sống qua ngày băng tiền trợ giúp từ bà con, hay bè bạn, hoặc người cùng bang đã tị nạn ở nước ngoài. Một số khác tìm đường vượt biển, vượt biên và thường bị bắt lại và bị bỏ tù.

Đổi tiền lần thứ nhì
Hà Nội tin rằng cuộc đổi tiền lần thứ hai, trên toàn quốc thay vì chỉ ở miền nam như lần đầu, sẽ đề cao việc thống nhất đất nước, sẽ loại bỏ giai cấp tư bản trục lợi và tiến nhanh đến chủ nghĩa xã hội.
Theo Nghị định Hội đồng Bộ trưởng phát thanh ngày 3 tháng Năm, 1978, mỗi gia đình ở đô thị được đổi từ 100 đến 500 đồng tiền mới; Ở thôn quê mỗ gia đình được đổi từ 50 đến 300 đồng tiền mới tuỳ theo gia đình nhiều hay ít người. Quan chức chính phủ, các đơn vị quân đội, các cơ quan kinh tế xã hội khác được đổi tối đa 1000 đồng. (44)
Hối suất đổi tiền tại miền Nam là 0,8 đồng tiền cũ bằng 1 đồng mới; ngoài Bắc 1 đồng cũ lấy 1 đồng mới. Tất cả tiền còn lại phải đổi và gởi vào ngân hàng và chỉ được lấy ra khi đã được chấp thuận để chi dùng vào việc cần thiết như đau yếu, sinh nở, tai nạn, tang ma.
Sau 24 giờ, tất cả tiền còn lại chưa đổi sẽ không còn giá trị. Đã kinh nghiệm lần đổi tiền nằm 1975, dân chúng đổ xô đi mùa vàng, đô-la, tiền Hong Kong không màng giá chợ đen. Kịch bản 1975 tái diễn, rất nhiều người đã đốt tiền, dấu tiền, cho tiền hay mua vàng hay những ngoại tệ. Số khác đi mua thức ăn ngon, đắt tiền để tận hưởng ngày cuối của những số tiền dư thừa sẽ không dùng được nữa, 1 con cá giá 200 đồng mới, một con gà giá 100 đồng (45). Vài ngày sau công an đi kiểm soát tư gia và đã đem đi từng thùng tiền cũ vì chủ nhân không chứng minh được đó là thu nhập hợp pháp. Công an cũng tịch thu cả tủ lạnh, xe máy, radio, TV và những vật dụng xa xỉ khác. Một lẫn nữa, rất nhiều người, cả Hoa lẫn Việt, đã trắng tay sau ngày 3 tháng Năm 1978.
Không lường được hệ quả của của cuộc đổi tiền, đổi đời của hàng triệu người dân miền Nam, nhà nước cộng sản tiêp tục bước kế trong chiến dịch tiêu diệt giới thương nhân giàu có, đẩy nhanh cuộc xã hội chủ nghĩa hoá miền Nam.

Chuyển đổi công thương nghiệp tư bản thành xã hội chủ nghĩa
Đầu và giữa tháng Ba, 1978 đã có nhiều cuộc biểu tình ở Sài Gòn – Chợ Lớn, hàng trăm người Hoa xuống đường chống đàn áp, phân biệt đối xử dưới dạng tịch thu tài sản và tống xuất khỏi Việt Nam. Vì nhưng tuyên bố long trọng của TQ (46), trong những cuộc xuống đường, người Hoa cũng đòi lại quốc tịch Trung Quốc, đã mất lần đầu vào thập niên 1950 và lần thứ hai bị xoá xổ vào tháng Hai 1977.
Những động thái “bất trung” của người Hoa theo đuôi các tuyên bố về chính sách mới của Bắc Kinh chỉ tạo thêm lý cớ để Hà Nội tiếp tục cuộc vô sản sản hoá cấu trúc kinh tế miền Nam vào tháng Ba 1978. Cũng như chiến dịch đánh tư sản mại bản hồi tháng Chín, 1975, chiến dịch 1978 đã được chuẩn bị kỹ lưỡng trước đó ít nhất một tháng.
Mục xã luận tờ Nhân Dân ngày 24 tháng Hai viết cuộc vô sản hoá cấu trúc kinh tế tư sản là “một công tác kinh tế cấp bách cần phải thực hiện ngay nhằm tiêu diệt quyền sở hữu tư nhân ở mọi kỹ nghệ và thương mại để xây dựng và bành trướng thị trường xã hội chủ nghĩa, ổn định giá cả, tiền tệ, sản xuất và đời sống của nhân dân.” (47)
Tháng Ba, ngày 23, Chính quyền Tp. HCM ra thông cáo:
Hiệu lực tức thời, nhà nước sẽ thống nhất việc quản lý thị trường và trao trách nhiệm cho các cơ quan thương mại xã hội chủ nghĩa thống nhất mọi hoạt động kinh doanh, tổ chức và phân bố nhu yếu phẩm cần thiết cho sản xuất và đời sống của nhân dân ...
Tất cả những cơ sở thương mại của thương nhân tiểu tư sản sẽ bị dẹp bỏ. Những thương nhân này sẽ được hướng dẫn dùng vốn của họ để sản xuất tài sản vật tư cho xã hội ... Nếu có kỹ năng và chuyên môn, họ có thển được thu dụng vào các cơ quan thương mại của nhà nước để phục vụ cách mạng. (48)
Cơ sở, hàng hoá, tài sản của các thương gia tiểu tư sản sẽ được nhà nước mua lại. Để bảo đảm cho cuộc cách mạng vô sản (hoá miền Nam) thành công, CSVN đã thay đổi toàn bộ ban lãnh đạo Tp. HCM vào đầu năm 1978, hàng ngàn cán bộ miền Bắc đã vào Nam.
Tối ngày 23 tháng Ba, một lực lượng hỗn hợp 30.000 người, gồm công an, sinh viên, thanh niên xung phong, cán bộ đã bao vây nguyên khu chợ Lớn. Với tiền đề để kiểm tra hàng hoá và tài sản, đoàn công an, cán bộ CSVN đã lục soát từng căn nhà, từng cửa hàng, tịch thu hàng hoá và tài vật của 50.000 tiệm buôn lẻ trong Chợ Lớn.
Ngày hôm sau, 24 tháng Ba, 1978, nhà nước cộng sản tuyên bố đặt ra ngoài vòng pháp luật tất cả mọi dịch cụ bán sỉ, những hoạt động thương mại lớn. Như thế, Hà Nội đương nhiên đóng cửa khoảng 30.000 cơ sở kinh doanh không báo trước. Chiến dịch vô sản hoá kinh tế miền Nam kéo dài đến giữa tháng Tư với những cuộc bao vây, lùng soát, tịch thu tương tự ở nhiều tỉnh thanh khác trên toàn quốc.
Chiến dịch vô sản hoá của Hà Nội đã gặp kháng cự, dù trong tuyệt vọng, của người Hoa ở vùng Sài Gòn – Chợ Lớn. Kết quả những quộc đụng độ với công an đã khiến đường phố Chợ Lớn tháng Ba 78 “đầy những xác người” (49). Để xoá tan mọi dấu vết, tàn dư của nền kinh tế của xã hội tư bản, ngày 31 tháng Ba, Hà Nội ra lệnh cấm chỉ tất cả mọi hoạt động kinh doanh tư nhân trên toàn cõi Việt Nam, kể luôn cả hàng ngàn cửa hàng bán lẻ của tư nhân ở Sài Gòn cũng như Hà Nội. Hơn thế nữa, những người đã bị tịch thu tài sản và thương nghiệp, được lệnh phải di chuyển đến “Vùng kinh tế mới” trong vòng 1 tháng. Thanh niên còn khoẻ mạnh được đưa vào quân đội gởi sang chiến trường ở biên giới ViệtNam-Kampuchea. (50)
Cú dứt điểm của Hà Nội, cuộc đổi tiền lần thứ nhì vào ngày 3 tháng Năm 1978, dường như đã đạt kết quả xóa bỏ mọi dấu vết của nền kinh tế tư sản tư nhân. Không còn người giàu có tại Việt Nam. Không còn cự phú người Hoa ở Chợ Lớn. Một số nhỏ vẫn còn giấu được vàng hay tiền nước ngoài, nhưng đại đa số đã phải nương tựa vào người thân, bạn bè ở ngoại quốc để sống và chuẩn bị cuộc bỏ chạy khỏi nước Việt nam vô sản mở màn cho thảm kịch hàng đầu trong lịch sử thế giới, kể từ khi Đức Quốc Xã và Hitler tàn sát người Do Thái ở thập niền 1930, 1940.
(Theo Trần Giao Thủy- DCVOnline)


Vài món ẩm thực Trung Hoa nổi tiếng, cầu kì ...
Nhìn phát thèm!

Vịt quay Bắc Kinh; Tôm nõn long tỉnh (Chiết Giang); Thịt Đông Pha; Cá chép Tây Hồ; Cá xốt chua ngọt (Sơn Đông); Gà cay Trùng Khánh (Tứ Xuyên); Gà xào Cung Bảo (Tứ Xuyên); Đậu xốt Tứ Xuyên; Cơm rang Dương Châu (Giang Tô); Bào ngư xốt dầu hào (Quảng Đông); Baba hồng xíu (Quảng Đông); Phật trèo tường (Phúc Kiến); Gà Đông An (Hồ Nam) ...

EU: triệt hạ mạng lưới buôn lậu người từ Việt Nam
Cục Chống tội phạm có tổ chức (Soca) ở Liên hiệp châu Âu (EU) vừa công bố về bước đột phá trong chiến dịch phá huỷ một đường dây đưa lậu người Việt vào châu Âu, những người đứng đằng sau hàng ngàn các vườn trồng cần sa ở Anh.Cảnh sát Hungary và Anh cho hay đã triệt phá được một mạng lưới buôn người, bắt giữ 98 nghi can liên hệ tới đường dây này trong hai năm qua, trong đó có một vài người làm giấy tờ giả cho các nạn nhân là người Việt Nam.
Thông tấn xã AP trích lời ông Zoltan Boross, sĩ quan thuộc văn phòng Điều tra an ninh Hungary cho biết mục tiêu chính của nhóm buôn lậu người là tìm cách nhập cảnh Anh, tuy nhiên người Việt Nam cũng đã bị bán sang Pháp và Đức.
Chiến dịch đã được lực lượng cảnh sát một số nước thuôc Liên hiệp Âu châu hợp tác điều tra, bao gồm Ireland, Hà Lan, Bỉ, Italy, Ba Lan và Cộng hòa Czech.
Ông Andre Baker, phó giám đốc Cục điều tra về Tội phạm có tổ chức của Anh, cho hay những người nhập cư bất hợp pháp đã phải trả số tiền lên tới 28.500 USD để được đưa vào châu Âu và những ai không có khả năng trả đủ số tiền đó thường bị cưỡng bức lao động.
Các vụ bắt giữ cùng với vụ phát hiện 114 nạn nhân bị buôn người, trong đó có một số người đã được gửi trả về Việt nam, được thực hiện sau khi giới hữu trách Anh bắt đầu một dự án thực thi luật pháp Liên hiệp Châu Âu có tên gọi Tội phạm Nhập cư Có tổ chức của người Việt hồi năm 2009 (Vietnamese Organized Immigration Crime).
Theo ước tính, hiện có khoảng 35.000 người Việt Nam đang sống bất hợp pháp tại Anh.
Một số người bị bán sang Anh phải làm việc cho các tổ chức tội phạm và phải trông coi các vườn trồng thuốc phiện Marijuana, thường được đặt ngay trong các căn hộ ở thành phố. Hồi năm ngoái, cảnh sát Anh đã phát hiện 6.900 vườn Marijuana, tuy nhiên số người Việt Nam làm công việc này đã giảm.
Baker cho rằng số tiền công trả cho những người nhập cư bất hợp pháp này khá cao vì thu nhập hàng lậu của họ ở Anh có thể đủ để nuôi cả gia đình 10 người ở Việt Nam trong vòng 10 năm. Tuy nhiên ông Baker cũng nhấn nhấn mạnh đến những nguy cơ khi nhập cư bất hợp pháp như bị đánh đập, cưỡng bức lao động hoặc có thể bị giết hại và nói rằng “chúng tôi muốn gửi đến họ một thông điệp rằng các đường phố ở Anh không được lát bằng vàng.”
Cùng lúc tại Budapest, ông Boross nói rằng các tay tội phạm dùng rất nhiều thủ đoạn khác nhau như sử dụng sân bay nhỏ ở địa phương để tránh bị phát hiện hoặc trả tiền để mượn chứng minh thư thật và xin thị thực hợp pháp cho người nhập cư đến một nước Châu Âu rồi nhanh chóng chuyển họ sang nước khác. Theo ông, những kẻ buôn người thường mua bán một hoặc hai người mỗi lần và thường là người đi cùng với họ cũng là người Việt Nam.
(theo VOA)

Những thanh niên trẻ tuổi này đến rồi làm việc trong các nhà máy sản xuất thuốc phiện bất hợp pháp tại Hungary và Anh để đổi lấy một bát cơm mỗi ngày, nhằm kiếm tiền trả khoản nợ 20.000 USD cho những kẻ buôn người đã dẫn họ tới "miền đất hứa".
Đó là cuộc sống của những người nhập cư trái phép từ Việt Nam, được cảnh sát công bố hôm qua tại Hungary. 31 kẻ buôn người và 66 người nhập cư trái phép đã bị bắt tại Hungary, Pháp, Đức và Anh trong chiến dịch chống nạn nhập cư bất hợp pháp lớn nhất từ trước tới nay của cảnh sát châu Âu.
Theo BBC, với các nước như Hungary, Slovakia và Cộng hòa Czech, nay thuộc nhóm Schengen, thì không có kiểm soát biên giới nên các di dân có thể tới tận eo biển Manche (English Channel) mà không phải trình giấy từ. Một số vào các nước Schengen một cách hợp pháp theo visa ngắn hạn. Còn những người khác vượt biên trái phép vào Đông Âu từ Nga hoặc Ukraina.
Cảnh sát cho biết hầu hết số người Việt này đến từ Hải Phòng hoặc các vùng phía bắc Hà Nội. Có khoảng 30.000 người Việt Nam sống hợp pháp tại Anh nhưng số những người sống bất hợp pháp thì lên tới 35.000 người.
Tại Hungary cũng có khoảng 4.000-5.000 người Việt Nam sinh sống, theo số liệu của Cục điều tra quốc gia (NNI). Nhiều người đi theo nhóm với thư mời của các công ty không hề tồn tại. Trong số 900 người mới đến Hungary gần đây, 600 người sau đó mất tích.
Cảnh sát Anh và Hungary cho biết việc nhập cư trái phép đều có dính líu với việc sản xuất thuốc phiện.


Nguồn gốc Tên Họ phổ biến nhất tại Việt Nam

Không phải bất cứ tên họ nào của người Việt cũng là họ của người Trung Hoa. Tuy nhiên, đa số tên họ mà người Việt có, đều là họ có gốc xuất xứ từ Trung Hoa. Ðiều đó không có nghĩa người Việt là người Tàu, mà chỉ có nghĩa người Việt đã bắt chước hay bị bắt buộc nhận tên họ Trung Hoa, vì ảnh hưởng văn hóa, vì các cuộc hôn nhân dị chủng. Sau đây là nguồn gốc các tên họ phổ biến nhất tại Việt Nam. Viết phần này, chúng tôi căn cứ theo tài liệu của Sheau Yeuh J. Chao trong tác phẩm: In Search Of Your Asian Roots - Genealogical Research On Chinese Surnames.bTính danh học Việt Nam: Sơ lược nguồn gốc những tên họ phổ biến nhất tại Việt Nam

ÂU => Theo sách Đường thư Tể tướng Thế Hệ Biểu, Vô Cương chắt đời thứ 7 của Câu Tiễn được ban cho đất ở núi Âu Dư Sơn để cai trị. Do vậy, một số cháu chắt Vô Cương đã nhận họ Âu và chọn đất Bình Dương, tỉnh Thiểm Tây để cư ngụ, một số khác nhận họ kép Âu Dương vì ở đó có ngọn núi Âu Dương. Dòng họ Âu Dương cư ngụ tại 2 tỉnh Giang Tô và Sơn Đông.
BÙI => Theo sách Thông Chí Thị Tộc Lược, ông Bá Khôi, thời vua Đại Vũ nhà Hạ, được ban cho đất ở làng Bùi. Con cháu ông Bá Khôi nhận tên làng Bùi làm tên họ. Dòng họ Bùi ban đầu cư ngụ tại tỉnh Hà Đông, phía đông sông Hoàng Hà.
CAO => Theo Quảng Vận, đời Chu, con cháu của Kỷ Thái Công được ban cho nước Cao để cai trị. Cháu chắt đã nhận tên nước Cao làm tên họ. Dòng họ Cao ban đầu cư ngụ tại tỉnh Sơn Đông.
CHU => Thời xưa, nước Tàu có nước nhỏ gọi là Chu, do Thái Vương cai trị. Con là Văn Vương nối nghiệp, nhận tên Chu làm tên họ nên gọi là Chu Văn Vương. Ban đầu, dòng họ Chu cư ngụ tại Thiểm Tây, sau lan dần sang Hà Nam.
CUNG => Theo sách Tính Thị Khảo Lược do Trần Đình Vi viết vào đời nhà Thanh, Huy là con thứ 5 của Hoàng Đế đã sáng chế ra cây cung nên được ban cho đất Trương để cai trị. Con cháu đã nhận chữ Cung và Trương làm tên họ. Theo sách Vạn Tính Thống Phổ, Thúc Cung làm quan đại phu nước Lỗ ở tỉnh Sơn Đông. Cháu chắt đã nhận chữ Cung làm tên họ. Gia tộc họ Cung phát triển ở vùng Sơn Tây. Vào thời Nam Bắc Triều, nhiều họ Cung đổi sang họ Trương để tránh bị bạc đãi.
QUAN => Theo sách Cổ Kim Tính Thị Biện Chứng, họ Quan do tên chức quan canh gác cung điện nhà Chu. Quan Chí Cơ, giữ chức Đại Phu nước Ngu, là người đầu tiên nhận họ Quan. Dòng họ Quan tập trung nhiều ở tỉnh Sơn Tây là nơi ngày xưa có nước Ngu.
DOÃN => Ban đầu từ Doãn để chỉ bộ lạc cổ gọi là rợ Nhung. Khi người Nhung cư ngụ trong lãnh thổ Hán, bị đồng hóa thì người Nhung đã nhận tên bộ tộc Doãn làm tên họ.
=> Theo sách Nguyên Hà Tính Toản của Lâm Bảo, viết vào đời Đường (618-907), người sáng lập họ Dư là Do Dư làm quan đời nhà Tần. Con cháu nhận tên ông làm tên họ. Trong Hán văn, hình dạng chữ Dư và chữ Xa rất giống nhau nên vào đời nhà Đường, vì viết lầm họ Dư ra họ Xa, nên từ đó nước Tàu có thêm họ Xa.
DƯƠNG => Theo sách Danh Hiền Thị Tộc Ngôn Hành Loại Cảo, họ Dương là chi nhánh của họ kép Dương Thiệt, và bắt đầu xuất hiện thời Xuân Thu- Chiến Quốc. Dòng tộc họ Dương ban đầu cư ngụ tại Sơn Tây, sau di chuyển qua Thái Sơn tỉnh Sơn Đông.
ĐÀO => Họ Đào bắt nguồn từ chức quan gọi là Đào Chính. Đào Chính là chức quan trông coi việc chế tạo đồ gốm cho cung điện nhà Chu. Người đầu tiên giữ chức quan Đào Chính là ông Ngu, con cháu ông lấy từ Đào làm tên họ. Trong Hán tự, đào có nghĩa là đồ gốm.
ĐẶNG => Theo Nguyên Hà Tính Toản, họ Đặng là chi nhánh của họ Mạn. Đặng là tên nước. Cuối đời Thương, con cháu của Kim Thiên Thị được ban cho đất Đặng để cai trị. Do vậy, cháu chắt đã nhận tên Đặng làm tên họ. Dòng họ Đặng cư ngụ tại Hà Nam là nơi xưa kia có nước Đặng.
ĐINH =>Họ Đinh rất phổ biến tại Trung Quốc, theo Vạn Tính Thống Phổ và Thông Chí Thị Tộc Lược được viết vào đời Tống (960-1279), họ Đinh là chi nhánh của họ Khương, thuộc dòng dõi Hoàng Đế. Vào đời nhà Chu, hậu duệ của Hoàng Đế nhận chữ Đinh làm tên họ. Dòng tộc Đinh ban đầu cư ngụ tại tỉnh Sơn Đông.
ĐOÀN => Theo Nguyên Hà Tính Toản, Đoàn là tên của giống dân du mục mà người Hán gọi là rợ Hồ. Khi họ định cư tại đất Hán vào đời hậu Chu (947-950), họ nhận tên Đoàn làm tên họ. Theo sách Sử Ký Ngụy Thế Gia, họ Đoàn là chi nhánh của họ kép Đoàn Can. Đoàn Can là tên ấp nằm trong nước Ngụy và ông tổ của dòng họ này là Đoàn Can Mộc. Dòng họ Đoàn và Đoàn Can ban đầu cư ngụ tại Sơn Tây và Hồ Bắc là nơi xưa kia có nước Ngụy.
ĐỖ, PHẠM => Theo Nguyên Hà Tính Toản và Lộ Sử, Lưu Luy thuộc dòng Đường Đế Nghiêu. Lưu Luy lập ra nước Đường nay ở Sơn Tây và người ta thường gọi là Đường Đỗ Thị. Vào triều đại nhà Chu, Chu Thành Vương chiếm nước Đường. Một người cháu Lưu Luy được cấp đất Đỗ Thành ở Tây An tỉnh Thiểm Tây và được phong tước Đỗ Bá. Do vậy, con cháu nhận tên Đỗ làm tên họ. Đất Đỗ Thành lại bị Chu Tuyên Vương chiếm và con của Đỗ Bá là Đỗ Thấp Thúc chạy sang nước Tấn, được phong chức Sĩ Sư nên đổi họ Đỗ thành họ Sĩ. Đến đời chắt của ông này là Sĩ Hội được ban cho đất Phạm, gọi là Phạm Ấp để cai trị, nên đã đổi họ Sĩ ra họ Phạm. Dòng họ Phạm phát triển mạnh tại tỉnh Sơn Tây.
GIANG => Theo Nguyên Hà Tính Toản, chắt vua Chuyên Húc là Bá Khôi được ban cho đất Giang Lăng để cai trị. Vào thời Xuân Thu, nước Giang bị nước Sở thôn tính, cháu chắt Bá Khôi đã chọn tên Giang làm tên họ để tưởng nhớ nước Giang.
GIÁP => Theo Phong Tục Thông, họ Giáp bắt nguồn từ họ kép Giáp Phụ và Giáp Phụ là tên nước.
HÀ/HÀN => Theo Nguyên Hà Tính Toản, họ Hà có từ đời nhà Tần, là chi nhánh của họ Hàn, thuộc dòng dõi Chu Văn Vương. Người lập nên họ Hà là Hàn An, sống ở nước Hàn nay ở tỉnh Sơn Tây. Khi Tần Thủy Hoàng chiếm nước Hàn, Hàn An trốn sang Giang Tô và đổi thành họ Hà. Dòng họ Hà sinh sống dọc theo sông Dương Tử và sông Hoài chảy qua hai tỉnh Giang Tô và An Huy.
HOÀNG => Theo Nguyên Hà Tính Toản, Hoàng là tên đất. Chu Vũ Vương cho con cháu Lục Chung đất Hoàng ở Hà Nam để cai trị. Nước Hoàng bị nước Sở Chiếm, con cháu Lục Chung nhận từ Hoàng làm tên họ để tưởng nhớ nước Hoàng.
HỒ => Theo Nguyên Hà Tính Toản, họ Hồ thuộc dòng dõi Đế Thuấn, và người lập nên họ Hồ là Hồ Công Mãn. Họ Hồ là chi nhánh của họ Trần. Hồ Công Mãn được Chu Vũ Vương ban cho đất Trần để cai trị. Khi Hồ Công Mãn chết, con cháu lấy họ Hồ để tưởng nhớ người sáng lập nước Trần. Dòng họ Hồ cư ngụ tại Hồ Bắc.
KHỔNG => Họ Khổng thuộc dòng dõi Hoàng Đế, theo Quảng Vận, họ Khổng là chi nhánh của họ Tử. Con của Đế Cốc đã nhận chữ Tử làm tên họ. Đến đời vua Thành Thang (1766-1753 TCN), một người chắt Đế Cốc được giữ chức Thái Ất. Do vậy, con cháu đã phối hợp chữ Tử và Ất, tạo thành chữ Khổng để làm tên họ. Người đầu tiên nhận họ Khổng là Khổng Phú Gia.
KHUẤT => Theo Thượng Hữu Lục và Vạn Tính Thống Phổ, Khuất là tên đất gọi là Khuất Ấp. Con của Chu Vũ Vương được ban cho Khuất Ấp để cai trị. Cháu chắt đã nhận địa danh Khuất làm tên họ. Dòng họ Khuất ban đầu cư ngụ tại Hà Nam.
KHÚC => Theo Vạn Tính Thống Phổ và Thông Chí Thị Tộc Lược, họ Khúc thuộc dòng dõi Chu Văn Vương. Con của Mục Hầu nước Tấn được ban cho đất gọi là Khúc Ốc. Do vậy, con cháu đã nhận họ Khúc. Dòng họ Khúc cư ngụ tại Thiểm Tây là nơi xưa kia có đất Khúc.
KIỀU => Theo Nguyên Hà Tính Toản, và Vạn Tính Thống Phổ, họ Kiều là chi nhánh của họ Cơ, thuộc dòng dõi Hoàng Ðế. Theo hai sách này, Hoàng Ðế chết, được chôn ở núi Kiều Sơn nên con cháu nhận tên núi Kiều làm tên họ. Dòng dõi họ Kiều cư ngụ tại Sơn Tây.
LẠI => Theo Tính Thị Khảo Lược, Lại là tên nước thời Xuân Thu. Người nước Lại lấy tên nước làm tên họ. Dòng dõi họ Lại đầu tiên cư ngụ tại tỉnh Hà Nam.
LÂM => Theo Lộ Sử và Nguyên Hà Tính Toản, họ Lâm là chi nhánh họ Tử thuộc dòng dõi vua Thành Thang. Người đầu tiên nhận họ Lâm là Tỷ Can. Tỷ Can bị Trụ Vương giết, con Tỷ Can trốn vào rừng. Về sau Chu Vũ Vương ban cho con Tỷ Can đất Bá Lăng, nay ở Hà Bắc và ban cho tên họ Lâm. Dòng họ Lâm ban đầu cư ngụ tại Hà Bắc, sau lan sang Sơn Đông và Hà Nam.
=> Có 2 tài liệu nói về họ Lê. Theo sách Phong Tục Thông, dưới triều vua Thiếu Hạo (2598-2513 TCN), có nhóm quan gồm 9 người gọi là Cửu Lê. Con cháu các quan này đã nhận chữ Lê làm tên họ. Theo Lộ Sử và Nguyên Hà Tính Toản, Lê là tên nước đời nhà Thương. Khi nhà Thương bị diệt, nước Lê thuộc nhà Chu. Con cháu Đường Đế Nghiêu được phong tước Lê Hầu. Do vậy con cháu đã lấy tên tước Lê làm tên họ. Dòng họ Lê ban đầu cư ngụ tại Sơn Đông là nơi khi xưa có nước Lê.
LƯU => Họ Lưu thuộc dòng dõi Hoàng Đế. Theo sách Thông Chí Tính Tộc Lược, cháu chắt của Đường Đế Nghiêu được ban cho đất Lưu, nay ở tỉnh Hà Bắc để cai trị. Cháu chắt đã nhận tên đất Lưu làm tên họ. Nhưng theo sách Danh Hiền Thị Tộc Ngôn Hành Loại Cảo, Lưu là tên huyện. Một người cháu chắt Chu Văn Vương làm quan đại phu, được ban cho đất Lưu Ấp. Con cháu đã nhận tên đất Lưu làm tên họ.
LƯƠNG=> Theo sách Danh Hiền Thị Tộc Ngôn Hành Loại Cảo, họ Lương thuộc thị tộc Doanh. Con của Tần Trọng được ban cho đất Hạ Dương và được phong tước Lương Bá. Cháu chắt Lương Bá nhận tên Lương làm tên họ. Một tài liệu khác cho rằng thời Bắc Ngụy, vua Hiếu Văn Đế ra nhiều sắc lệnh cải cách xã hội Tàu, trong đó có lệnh bắt đổi họ ba chữ Bạt Liệt Lan thành họ Lương.
=> Theo Nguyên Hà Tính Toản, họ Lý (nghĩa: cây mận) là chi nhánh của họ Lý (nghĩa: thớ thịt). Cả hai họ này có ông tổ chung là Chuyên Húc. Cửu Dao là cháu Chuyên Húc giữ chức Lý Quan tức quan án nên Cửu Dao đổi sang họ Lý (nghĩa: thớ thịt). Đến đời Thương, Lý Trưng phạm tội bị Trụ Vương đuổi khỏi nước và chết, con là Lý Lợi Trinh sống sót nhờ ăn trái cây gọi là Mộc Tử. Để ghi nhớ sự kiện này, ông ghép chữ Mộc và chữ Tử thành chữ Lý( nghĩa: cây mận) để làm tên họ. Dòng họ Lý cư ngụ tại Hà Bắc.
MA => Có 2 tài liệu nói về họ Ma. Theo sách Phong Tục Thông, thì Ma Anh làm quan đại phu nước Tề, con cháu nhận tên Ma làm tên họ. Theo sách Tính Thị Khảo Lược, quan đại phu nước Sở được ban cho đất Ma gọi là Ma Ấp để cai trị. Cháu chắt đã nhận chữ Ma làm tên họ. Dòng họ Ma cư ngụ tại Hà Bắc là nơi xưa kia có nước Ma.
=> Họ Mã rất phổ thông tại Trung Quốc và đặc biệt đa số người họ Mã theo Hồi Giáo. Theo Nguyên Hà Tính Toản, họ Mã là chi nhánh của họ Doanh, thuộc dòng dõi Chuyên Húc. Người sáng lập dòng họ Mã là Triệu Xa. Triệu Xa giữ chức Mã Phục Quân là chức quan trông coi việc thuần thục ngựa cho kỵ binh thời Chiến Quốc. Con cháu Triệu Xa đã nhận tên chức quan Mã làm tên họ. Dòng họ Mã cư ngụ tại vùng Thiểm Tây.
MẠC => Theo Tính Thị Khảo Lược, Mạc là tên thành. Vua Chuyên Húc xây Mạc Thành. Cư dân trong Mạc Thành đã lấy chữ Mạc làm tên họ. Dòng họ Mạc cư ngụ nhiều tại Hà Bắc là nơi xưa kia đã xây Mạc Thành. Thuyết thứ hai cho rằng, họ Mạc là do tên chức vụ công quyền: chức Mạc Ngao. Khuất Nguyên của nước Sở giữ chức vụ này nên con cháu đã lấy chữ Mạc làm tên họ.
MAI => Theo Đường Thư Tể Tướng Thế Hệ Biểu, họ Mai là chi nhánh của họ Tử. Mai là tên đất. Vào đờI nhà Thương, người anh của Thái Đinh được ban cho đất Mai và được phong tước Mai Bá. Con cháu đã nhận tên đất Mai làm tên họ. Dòng họ Mai cư ngụ tại Hà Nam.
NGHIÊM => Họ Nghiêm xuất phát từ họ Trang, thuộc dòng tộc Trang Vương nước Sở. Theo Nguyên Hà Tính Toản, khi Trang Vương mất, con cháu đã nhận tên Trang làm tên họ. Theo Tính Thị Khảo Lược, vì tránh tên húy của Hán Minh Đế nên ông Trang Quang đã đổi sang họ Nghiêm. Từ đó nảy sinh dòng họ Nghiêm. Dòng họ này phát triển mạnh tại tỉnh Chiết Giang.
NGÔ => Vào thời Xuân Thu-Chiến Quốc, phía nam sông Dương Tử là vùng Giang Nam. Vùng này là lãnh thổ của nước Ngô. Theo Thông Chí Thị Tộc Lược, dân chúng nước Ngô đã nhận tên Ngô làm tên họ. Dòng họ Ngô ban đầu cư ngụ tại tỉnh Giang Tô là nơi có nước Ngô. Sau này, người họ Ngô cũng cư ngụ tại Chiết Giang và Sơn Đông.
NGUYỄN => Theo hai tài liệu Nguyên Hà Tính Toản và Vạn Tính Thống Phổ, đời nhà Thương có nước Nguyễn. Cư dân nước này nhận tên Nguyễn làm tên họ. Nhiều người dòng họ Nguyễn cư ngụ tại tỉnh Hồ Nam.
NÔNG => Theo Vạn Tính Thống Phổ, họ Nông bắt nguồn từ Thần Nông Thị. Vua Thần Nông dậy dân làm ruộng nên dân chúng nhận tên Nông làm tên họ.
ÔNG => Theo Nguyên Hà Tính Toản và Tính Thị Khảo Lược, họ Ông thuộc dòng Chu Văn Vương. Con Chu Văn Vương là Chu Chiêu Vương được ban cho đất Ông để cai tri. Con cháu đã nhận tên họ Ông. Tại đất Ông có ngọn núi tên là Ông Sơ Dòng họ Ông cư ngụ tại Chiết Giang.
PHẠM Xem họ ĐỖ.
PHAN => Theo Nguyên Hà Tính Toản, họ Phan thuộc dòng tộc Chu Văn Vương. Chu Văn Vương cho chắt của mình là Chu Chí Tôn vùng đất gọi là Phan Ấp để cai trị. Con cháu Chí Tôn đã nhận tên Phan làm tên họ. Ban đầu dòng họ Phan cư ngụ tại Thiểm Tây, sau lan ra An Huy và Chiết Giang.
PHÓ => Theo Danh Hiền Thị Tộc Ngôn Hành Loại Cảo, người sáng lập dòng họ Phó là quan Thừa Tướng của vua Vũ Tính nhà Thương. Ông cư ngụ tại đất Phó Nghiễm, nay là tỉnh Sơn Tây. Con cháu đã nhận tên Phó làm tên họ. Dòng họ Phó cư ngụ tại Hà Bắc và Sơn Đông.
PHÙNG
=> Theo Nguyên Hà Tính Toản, họ Phùng thuộc dòng dõi Chu Văn Vương. Người con thứ 15 của vua này là Tất Công Cao được ban cho đất Phùng, gọi là Phùng Ấp để cai trị. Con cháu đã nhận tên Phùng làm tên họ. Dòng dõi họ Phùng cư ngụ tại Hà Nam và Sơn Tây.
QUÁCH
=> Theo Tính Thị Khảo Lược, họ Quách có từ đời nhà Hạ. Thời nhà Hạ dân chúng sống trong khu vực có tường lũy bao quanh gọi là Quách. Dân chúng lấy tên Quách làm tên họ. Theo Nguyên Hà Tính Toản, họ Quách là chi nhánh của họ Cơ, thuộc dòng dõi Hoàng Đế. Con thứ tư của Chu Văn Vương được ban cho đất Quách để cai trị nên con cháu nhận tên Quách làm tên họ. Dòng họ Quách phát triển mạnh tại Thái Nguyên, tỉnh Sơn Tây là nơi xưa kia có nước Quách.
SƠN => Theo Danh Hiền Thị Tộc Ngôn Hành Loại Cảo và Thông Chí Thị Tộc Lược, Sơn là tên một chức quan đời nhà Chu gọi là Sơn Sư. Quan Sơn Sư trông coi việc thu thuế lâm và ngư nghiệp. Con cháu nhận tên chức quan Sơn làm tên họ.
TẠ => Theo Nguyên Hà Tính Toản, họ Tạ là chi nhánh của họ Khương, thuộc dòng dõi Viêm Đế. Tạ là tên nước. Thân Bá là anh em rể của Chu Tuyên Vương được ban cho đất Tạ nên con cháu Thân Bá đã nhận tên Tạ làm tên họ. Đất Tạ nay ở tỉnh Sơn Đông.
TĂNG => Theo Nguyên Hà Tính Toản, họ Tăng là chi nhánh của họ Từ, thuộc dòng dõi vua Đại Vũ đời nhà Hạ. Khi Thiếu Khang hồi phục nhà Hạ, ông ban đất Khoái cho con út của ông là Khúc Liệt để lập nên nước Khoái. Nước Khoái bị diệt, họ hàng chạy sang nước Lỗ và để tưởng nhớ nước Khoái, con cháu đã lấy chữ Khoái nhưng bỏ bớt ngữ căn Ấp để thành chữ Tăng làm tên họ. Dòng họ Tăng phát triển mạnh tại Giang Tây, Phúc Kiến, Quảng Đông.
THÁI => Theo Tính Thị Tầm Nguyên, họ Thái là do họ kép Thái Thúc mà ra. Họ Thái Thúc là chi nhánh của họ Cơ, thuộc dòng dõi Hoàng Đế. Người lập ra họ Thái Thúc là Thái Thúc Nghĩa. Con cháu đã nhận Thái Thúc làm tên họ. Họ Thái Thúc ban đầu ở Hà Nam, Hà Bắc, sau phát triển ở Sơn Đông.
THÂN => Theo Nguyên Hà Tính Toản, họ Thân là chi nhánh họ Khương, thuộc dòng tộc Viêm Đế. Thân Lã được ban cho đất Thân để cai trị và được tước Thân Bá. Cháu chắt Thân Lã đã nhận địa danh Thân làm tên họ.
=> Theo Nguyên Hà Tính Toản, họ Tô thuộc dòng dõi Chuyên Húc. Đời nhà Hạ, Côn Ngô được ban cho đất Tô Thành nên con cháu đã lấy họ Tô. Đầu tiên, họ Tô cư ngụ tại Hà Nam. Sang đời Chu, họ rời về Cam Túc.
TÔN => Theo Nguyên Hà Tính Toản, họ Tôn bắt nguồn từ tên chức quan gọi là Tôn Bá. Chức quan này trông coi việc tế tự trong triều đình nhà Chu. Con cháu đã nhận tên chức quan làm tên họ. Họ Tôn cư ngụ tại phía đông sông Dương Tử, trong vùng gọi là Hà Đông.
TỐNG => Theo Vạn Tính Thế Phổ, họ Tống là chi nhánh của họ Tử và Tống là địa danh nước Tống. Chu Vũ Vương ban đất Tống cho Vi Tử Khải là con út của Đế Ất. Nước Tống bị nước Sở chiếm. Dân nước Tống nhận tên Tống làm tên họ. Họ Tống cư ngụ tại tỉnh Hà Nam.
TRẦN => Theo Thông Chí Thị Tộc Lược và Nguyên Hà Tính Toản, họ Trần là do tên nước Trần. Chu Vũ Vương cho Quỳ Mãn hay còn gọi là Hồ Công Mãn đất Trần nay ở tỉnh Hà Nam để cai trị. Mười thế hệ sau, cháu chắt Hồ Công Mãn bỏ đất Trần đi nơi khác để tránh binh biến. Để tưởng nhớ đất cũ, họ đã nhận tên nước Trần làm tên họ. Dòng dõi họ Trần cư ngụ nhiều tại tỉnh Hà Nam và Sơn Đông.
TRIỆU => Theo sách Bách Gia Tính xuất bản thời Bắc Tống, họ Triệu được con cháu đặt ra để tưởng nhớ vị sáng lập triều đại Bắc Tống là Triệu Khuông Dận. Theo sách Nguyên Hà Tính Toản, Triệu là tên vùng đất gọi là Triệu Thành. Đời nhà Chu, Tạo Phủ được ban cho đất Triệu Thành nên đã nhận chữ Triệu làm tên họ. Dòng họ Triệu cư ngụ tại Thái Nguyên tỉnh Sơn Tây
TRỊNH => Theo Nguyên Hà Tính Toản, Trịnh là tên nước. Đời vua Chu Tuyên Vương, Chu Hữu được ban cho đất Trịnh. Con cháu nhận tên Trịnh làm họ. Dòng họ Trịnh cư ngụ tại huyện Trịnh tỉnh Hà Nam.
TRƯƠNG => Theo Tính Thị Khảo Lược và Nguyên Hà Tính Toản, họ Trương thuộc dòng dõi Hoàng Đế. Người con thứ 5 là Huy sáng chế ra cây cung. Muốn bắn cung phải trương dây cung. Vì vậy, chữ Trương gồm 2 chữ Cung và Trường ghép lại. Một số cháu chắt ông Huy lấy từ Cung, số khác lấy từ Trương làm tên họ. Dòng họ Trương cư ngụ tại Thái Nguyên tỉnh Sơn Tây.
TỪ => Theo Nguyên Hà Tính Toản, ông tổ họ Từ là Bá Khôi. Bá Khôi là quan đại thần của Đế Thuấn. Vua Đại Vũ nhà Hạ ban nước Từ cho con cháu Bá Khôi cai trị. Nước Từ bị nước Sở chiếm nên cháu chắt Bá Khôi đã nhận tên Từ làm tên họ để tưởng nhớ quê hương cũ. Dòng họ Từ cư ngụ tại tỉnh Hà Nam.
VĂN => Theo Phong Tục Thông, họ Văn thuộc dòng dõi Hoàng Đế. Sau khi Chu Văn Vương chết, con cháu đã nhận chữ Văn làm tên họ.
VŨ/VÕ => Có 2 tài liệu về họ Vũ. Theo Nguyên Hà Tính Toản, họ Vũ là chi nhánh của họ Cơ và người sáng lập dòng họ này là Cơ Vũ, con của Chu Bình Vương. Theo Phong Tục Thống, họ Vũ thuộc dòng dõi Tống Vũ Công thời Xuân Thu. Con cháu đã nhận tên Vũ làm họ để tưởng nhớ ông tổ Tống Vũ Công. Dòng họ Vũ cư ngụ tại Thái Nguyên, Sơn Tây và Giang Tô.
VU => Họ Vương rất phổ thông tại Trung Quốc là chi nhánh của nhiều họ trước đây là vua hay hoàng đế Trung Quốc. Theo Thông Chí Thị Tộc Lược, họ Vương là chi nhánh của dòng tộc Chu Văn Vương. Vương Đạo là con cháu danh tiếng nhất của dòng họ này. Tài liệu khác cho rằng họ Vương thuộc dòng họ Đế Thuấn. Dòng họ Vương lan tràn khắp nước Tàu như Sơn Đông, Thái Nguyên, Hà Nam, Hà Bắc, Giang Tô.
(Theo VietCatholic News)




.







"Mộng-Giác" là khi mê tỉnh, vọng tưởng và giác ngộ hiện về ...


Hữu như phù vân ...
Quán được cái chết thì sẽ không già và bất tử

Viết thử tiếng Việt có dấu ...
Đạo
Không - Mô Phật
Nhàn hạ
Vô thường
Khang ninh
Khánh phát
Tâm
Thiền
Vấn tịnh


011