Frankfurt- Saigon / Ticket rẻ - Hè này có bạn nào ghé Saigon du lịch?


Đặc sản tiếng Việt... XHCN


Sư phụ TranThai - Luyện "Thiết Xa chưởng"...
Nhúng tay vào chảo dầu
Hổng biết bàn tay của ông này có rửa sạch trước khi nấu ăn không, nhưng Kann Trichan, 50 tuổi, đầu bếp tại Chiang Mai, Thái Lan, đã được ghi vào Sách kỷ lục Guinness thế giới vì anh có thể dùng bàn tay vớt đồ ăn trong chảo mỡ đang sôi sùng sục.

Kann đã trình diễn cho mọi người thấy khả năng chịu nóng của mình khi dùng tay không lấy 20 miếng gà rán ra khỏi chảo mỡ nóng 480 độ C trong vòng một phút. Anh cho biết: "Tôi có thể dùng tay trần để rang cơm, rán gà và làm nhiều đồ ăn khác. Khi tôi đưa tay vào chảo mỡ sôi, tôi cảm thấy hơi nóng, nhưng không bị rộp hay bỏng da".

Theo Metro, anh Kann tình cờ phát hiện ra khả năng đặc biệt của đôi tay cách đây 7 năm. Khi đó anh đang nấu ăn ngoài vườn thì một quả xoài rơi vào chảo dầu sôi khiến dầu bắn khắp đầu và tay của anh. Người đầu bếp này nghĩ anh lúc đó anh có thể phải đi cấp cứu vì bỏng nhưng cơ thể anh lại không hề bị tổn thương. Từ đó trở đi, anh dùng tay để nấu nướng và lấy đồ ăn ở trong chảo dầu hay nồi nước sôi. Đại diện của Tổ chức Guinness thế giới đã chứng nhận anh Kann là người chịu nóng giỏi nhất thế giới.


Chuyện giặt giũ của mấy bà nội gia...
Người Việt với nghề giặt ủi tại Texas
Nói chung, nếu chịu khó, nghề giặt ủi thu nhập rất khá, là nghề "ho ra bạc, khạc ra tiền" vào những thập niên trước. Bây giờ, đây vẫn còn là một nghề sống được, thu nhập vẫn còn tốt so với một số ngành nghề khác.
Nghề giặt ủi có hai loại: giặt nước (Washateria) và giặt khô (Dry Cleaner).

Giặt nước (Washateria)
Là hình thức tiệm giặt đồ tự động, chủ nhân chỉ cần trang bị vài chục máy giặt, máy sấy (tùy theo diện tích lớn nhỏ của tiệm), mở cửa ra để khách hàng sử dụng máy, tự giặt lấy đồ của mình.
Chủ không cần có mặt thường xuyên, chỉ cần có mặt trong một khoảng thời gian nhất định nào đó để kiểm soát máy móc, lấy tiền từ máy về, cho thêm hàng hóa vào mấy cái máy tự động bán bột giặt, thuốt tẩy... Trong tiệm hầu như tất cả đều sử dụng máy móc tự động.
Lợi điểm của nghề này là chủ nhân không cần phải mất nhiều thời gian, có khi chỉ cần mướn một người trông coi, quét dọn, kiểm soát xem máy móc cái nào hư, dán giấy báo cho khách biết để khỏi sử dụng, và báo cho chủ biết để ra sửa chữa.
Tiệm giặt loại này, đa số được mở ra ở khu vực dân cư nghèo. Vì nghèo, sống ở chung cư, không có máy giặt ở nhà nên mới đem đồ ra tiệm giặt. Chứ khu vực khá giả, thì nhà ai cũng có máy giặt, đâu ai đi giặt ở ngoài.
Do đó nghề này phải đối đầu với nhiều phức tạp. Đôi khi vì không có chủ hiện diện, nên gặp khách hàng xấu tính, cũng bị họ quậy phá, làm hư máy móc, hoặc cạy máy, ăn cắp tiền lẻ...
Nhưng đa số người Việt mình rất chịu khó. Hầu hết chủ nhân thường xuyên có mặt để kiểm soát và nhận thêm những dịch vụ đi kèm, như sửa quần áo, kết nút, lên lai, vá áo, mạng quần, cũng như bán thêm nước uống, đồ ăn vặt cho khách, để kiếm thêm thu nhập.
Nhiều khách không có thì giờ, sáng sớm họ tạt ngang giao khoán đồ cho chủ, sau giờ làm họ ghé vào lấy về. Lúc này đồ đã được giặt và xếp lại gọn gàng trong giỏ. Loại giặt này gọi là "wash and fold" - giặt và xếp, tính tiền theo cân nặng.
Nói chung, nếu chịu khó, nghề này thu nhập rất khá, là nghề "ho ra bạc, khạc ra tiền" vào những thập niên trước. Ở thời điểm bây giờ, nghề này đã gặp nhiều khó khăn, do những luật lệ khắc nghiệt mới, giá tiền nước tăng cao, vì bị thêm tiền tái chế nước sau khi sử dụng (sewer). Giá điện theo giá xăng dầu cũng lên gấp mấy lần.

Mọi thứ đều lên giá, chi phí tăng cao, lại gặp thời buổi kinh tế đình trệ, khách hàng giảm thiểu, nên ảnh hưởng nhiều tới thu nhập của ngành nghề này. Tóm lại, thời hoàng kim nghề này đã qua, không còn kiếm tiền dễ dàng như trong quá khứ.
Tuy nhiên, đây vẫn còn là một nghề sống được, thu nhập vẫn còn tốt so với một số ngành nghề khác.

Nghề giặt khô (Dry Cleaner)
Tiếng là giặt khô, nhưng thật ra loại tiệm giặt này có cả hai loại, loại đồ giặt bằng nước thường, và loại giặt bằng hoá chất. Tùy theo chất lượng vải đòi hỏi, đảm nhận giặt và ủi từ khâu đầu đến khâu cuối.
Nghề này bắt đầu thịnh hành từ hơn hai thập niên trước. Loại tiệm này cần trang bị rất nhiều máy móc, số vốn bỏ ra cũng khá lớn (từ 300 đến 400 ngàn dollars), cần nhiều thợ cho mỗi khâu giặt, ủi, cũng như phân loại, sắp sếp đồ...
Tuy nhiên thời điểm đó loại tiệm mẹ trang bị đầy đủ máy móc này không nhiều, vì khách hàng tương đối chọn lọc, chỉ chủ yếu phục vụ cho thành phần khá giả, giàu có. Họ khó tính, đòi hỏi cao, giặt phải sạch, ủi phải thẳng như mới, không được một còn tì vết... Do vậy giá tiền phục vụ khá cao. Để có đủ khách trên bình diện rộng, theo nhu cầu đã phát sinh thêm những tiệm con ăn chia nhận khách dọc đường cho tiệm mẹ. Tên thường gọi của những tiệm con này là Sub station.
Loại dịch vụ này không cần vốn nhiều, chỉ cần căn tiệm nhỏ, đứng trung gian nhận đồ rồi chia 50/50 với tiệm mẹ, kèm thêm dịch vụ sửa đồ, hoặc may đồ. Đơn giản vậy nhưng thu nhập cũng rất khá. Ở thời điểm này, tiệm con, tiệm mẹ gì cũng sống hùng sống mạnh, sống vững chắc.
Thời gian khoảng 15 năm trở lại đây, nghề giặt khô này vì lợi nhuận to lớn, không nhớ khởi đầu từ ai (chắc cũng khởi nguồn từ dân Á đông, chịu khó chịu khổ), mà cuộc cách mạng giặt đồ giá rẻ đã bùng phát, phổ thông đại chúng tới mọi tầng lớp sang hèn. Loại tiệm giặt này giá phục vụ rất bình dân, do áo quần không cần phải o bế tốn nhiều công sức, chỉ cần giặt ủi tương đối, xử lý tất cả bằng máy móc. Giặt hàng loạt, ủi đồ hàng loạt, nhanh, nhiều, nên giá rất phải chăng.
Do quá tiện lợi nên số lượng khách hàng rất đông, hầu như nhà nhà ai cũng đem đồ ra tiệm giặt. So ra vừa rẻ mà còn trông đẹp hơn tự giặt ủi ở nhà rất nhiều, đôi bên đều có lợi. Cuộc cách mạng giá rẻ đã thành công ngoài sức tưởng tượng, nên nhiều cửa tiệm mới mọc lên ào ạt, hầu như góc đường nào cũng có. Những cửa tiệm này toàn là dân Á đông làm chủ, trong đó số đông là người Việt.
Cuộc cách mạng giá rẻ này đã đánh sập không ít những tiệm giá cao có sẵn từ trước của dân bản xứ, kèm theo hàng loạt sub station (tiệm con) bị ảnh hưởng nặng. Vì cục diện thay đổi, tiệm mẹ giá rẻ mở ra khắp nơi, mọi góc phố, góc đường. Vì vậy tiệm con đã trở nên lỗi thời, dần dần phải tự đóng cửa, đổi nghề.
Nghề này cũng có khi gặp nhiều sóng gió, như hoá chất giặt khô, chất Perch (Perchloroethylene) bị cảnh cáo ảnh hưởng sức khoẻ, ô nhiễm môi trường... Chính phủ cố gắng thay thế bằng chất khác để giảm thiểu độc hại, chất petroleum đang được thay thế dần. Nhưng nhiều nhà giặt chuyên nghiệp cho biết chất petroleum giặt đồ không sạch bằng chất perch, và loại máy móc đang xài, được sản xuất chỉ sử dụng được Perch solvent. Máy lại rất mắc, nên dù bị chính phủ đánh thuế thêm tiền làm sạch không khí, đem đến giá mua perch khá cao. Tuy nhiên, một số lớn họ vẫn phải ráng cầm cự thêm một thời gian nữa, cho đến khi thay được máy mới.
Nghề nào cũng vậy, giặt ướt, giặt khô hay bất cứ ngành nghề phục vụ khách hàng nào khác, vẫn lắm khi nhức đầu vì những vô lý, ngang ngược của khách hàng. Nhất là nghề này chủ yếu phục vụ khách bình dân, nên thêm phần phức tạp.
Riêng nghề giặt khô còn có thêm những khó khăn về nhân công, thêm máy móc lắm khi trục trặc, đồ của khách lại buộc phải giao trong ngày. Mệt nhất là mỗi khi máy móc gặp trở ngại, kiếm thợ bảo trì cũng rất khó khăn. Vì số thợ máy cho ngành này có hạn, mà tiệm giặt thì quá nhiều, số cung ít hơn số cầu, nên nhiều khi cầu thợ còn hơn cầu thần. Lắm phen căng thẳng, giận quá muốn bỏ nghề. Nhưng bù lại kiếm khá tiền, nên hết giận, lại làm tiếp.
Một tiệm gìặt khô nếu mở trúng vào một địa điểm tốt, làm ăn suôn sẻ, mỗi tháng kiếm 10-20 nghìn đôla là chuyện bình thường. Đó là kể vào thời hoàng kim, nhiều năm trước, còn bây giờ ra sao?
Do lợi nhuận cao, nên thiên hạ ào ạt ra mở tiệm, sự cạnh tranh ngày càng khốc liệt, đua nhau giảm giá. Trong khi lượng khách hàng thì có phần giảm bớt, phải thắt lưng buộc bụng do kinh tế co cụm. Đã vậy mọi thứ, từ điện, gas, tới hoá chất, bột giặt, tiền mướn đất... đều tăng với tốc độ phi mã, đã đẩy ngành giặt khô này vào ngỏ cụt. Tuy vậy, trong thời điểm hiện tại, dù đã qua thời hoàng kim, nhưng vẫn còn sống được, so với một số ngành nghề khác.

Với bất cứ ngành nghề nào, phân tích chỉ là ở dạng tổng quát, không thể áp dụng cho riêng từng trường hợp. Dù thời điểm nào, vẫn có nhiều người thành công, lắm người thất bại. Sự thành bại còn ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố khác, như thời vận may rủi, cung cách phục vụ, chất lượng phục vụ, địa điểm tốt, xấu... Dẫu sao, đây cũng là những ngành nghề đã và đang mang lại cơm no áo ấm cho nhiều gia đình người việt ở Texas trong nhiều năm qua.


Đụng độ tình địch!
Ở một tiệc cưới bên TQ thình lình xuất hiện anh bồ cũ của Tân Lang... (Không mời cũng mò tới... chia vui!)
Thế là diễn ra màn cải lộn, giành giật chú rể tưng bừng giữa cô dâu và anh bồ phá đám.
Kết quả trong Clip cho thấy ai là người thắng cuộc ...


Người Mỹ nên xài đồ Mỹ?
Support MADE IN USA -
America... BUY AMERICAN?

Did you see that Diane Sawyer has a special report coming up this week? They removed ALL items from a typical, middle class family's home that were not made in the USA .
There was hardly anything left besides the kitchen sink. Literally. During the special they are going to show truckloads of items - USA made - being brought in to replace everything and will be talking about how to find these items and the difference in price etc..
It was interesting that Diane said that if every American spent just $64 more than normal on USA made items this year, it would create something like 200,000 new jobs!
WAS BUYING FOOD THE OTHER DAY AT WALMART and ON THE LABEL OF SOME PRODUCTS IT SAID 'FROM CHINA’
FOR EXAMPLE THE "OUR FAMILY" BRAND OF THE MANDARIN ORANGES SAYS RIGHT ON THE CAN 'FROM CHINA '
I WAS SHOCKED SO FOR A FEW MORE CENTS I BOUGHT THE LIBERTY GOLD BRAND OR THE DOLE SINCE IT'S FROM CALIF.
Are we Americans as dumb as we appear --- or --- is it that we just do not think while the Chinese, knowingly and intentionally, export inferior and even toxic products and dangerous toys and goods to be sold in American markets?
70% of Americans believe that the trading privileges afforded to the Chinese should be suspended.
Why do you need the government to suspend trading privileges? DO IT YOURSELF, AMERICA!!
Simply look on the bottom of every product you buy, and if it says 'Made in China ' or 'PRC' (and that now includes Hong Kong ), simply choose another product, or none at all. You will be amazed at how dependent you are on Chinese products, and you will be equally amazed at what you can do without.
Who needs plastic eggs to celebrate Easter? If you must have eggs, use real ones and benefit some American farmer. Easter is just an example. The point is do not wait for the government to act. Just go ahead and assume control on your own.
THINK ABOUT THIS: If 200 million Americans refuse to buy just $20 each of Chinese goods, that's a billion dollar trade imbalance resolved in our favor...fast!!
Most of the people who have been reading about this matter are planning on implementing this on June 1st and continue it until July 1st. That is only one month of trading losses, but it will hit the Chinese for 1/12th of the total, or 8%, of their American exports. Then they might have to ask themselves if the benefits of their arrogance and lawlessness were worth it.
Remember, JUNE TO JULY!!!!!!
START NOW.
Let's show them that we are Americans and NOBODY can take us for granted.
If we can't live without cheap Chinese goods for one month out of our lives, WE DESERVE WHAT WE GET!
America...... BUY AMERICAN!


I loves this ...

Von: Eric <photonwe@yahoo.com.au>
TAKE A GOOD LOOK AUSTRALIA! This will be us next! Bourke St Mall? Martin Place?

A Christian Nation cannot put up a Christmas scene of the baby Jesus in a public place, but the Muslims can stop normal traffic every Friday afternoon by worshiping in the streets. Something is happening in America that isreminiscent of what is happening in Europe. This is Political Correctness gone crazy. Scary! Isn't it?
This is NYC on Madison Ave

This is an accurate picture of every Friday afternoon in several locations throughout NYC where there are mosques with a large number of Muslims that cannot fit into the mosque - They fill the surrounding streets, facing east for a couple of hours between about 2 & 4 p.m - Besides this one at 42nd St & Madison Ave, there is another, even larger group, at 94th St & 3rd Ave,etc.,
Also, I presume, you are aware of the dispute over building another "high rise" Mosque a few blocks from "Ground Zero" -
With regard to that one, the "Imam" refuses to disclose where the $110 million dollars to build it is coming from and there is a lawsuit filed to force disclosure of that information - November can't come soon enough.
This is in New York City on Madison Avenue, not in France or the Middle East or Yemen or Kenya. Is there a message here???? Yes, there is, and they are claiming America for Allah. If we don't wake up soon, we are going to "politically correct" ourselves right out of our own country!
Guess what AUSTRALIA?
YOU ARE NOT THAT FAR BEHIND EITHER! IT WILL HAPPEN TO YOU VERY SOON!
PLEASE SEND THIS TO EVERYONE YOU KNOW WHO CARES! and to everyone else!


Vàng thật
Khi xưa, bên Ai Cập có một vị hiền triết nổi tiếng tên là Zun-Nun.
Ngày nọ, một anh thanh niên tìm đến hỏi ông: -"Thưa ngài, không hiểu tại sao những người đáng kính như ngài luôn ăn mặc theo một cách giống nhau và luôn luôn đơn giản như vậy. Chẳng lẽ không cần chưng diện một tí gì, không phải để khoe khoang, nhưng còn vì mục đích khác nữa chứ, thưa ngài?”.
Nhà hiền triết chỉ cười và cởi chiếc nhẫn ở tay ra, trao cho chàng trai và nói: -“Này anh bạn trẻ, ta sẽ trả lời câu hỏi, nhưng trước tiên anh phải giúp ta việc này đã. Hãy cầm lấy chiếc nhẫn ta, đi đến khu chợ bên kia đường, hãy đổi nó lấy một đồng vàng”.
Cầm chiếc nhẫn đen đúa của Zun-Nun trên tay, chàng thanh niên tỏ vẻ nghi ngại: “Một đồng vàng? Tôi không chắc là chiếc nhẫn có thể bán được với giá đó”.
- "Thử trước đã chàng trai, ai biết được điều gì có thể xảy ra?”. Chàng trai trẻ phóng nhanh ra chợ. Anh đem chiếc nhẫn vào hàng tơ lụa, rau cải, thịt cá và rất nhiều nơi khác. Nhưng sự thực là không ai đồng ý trả cho anh ta với cái giá đó. Anh ta quay về gặp Zun-Nun và nói: "Thưa Ngài, không một ai chịu bỏ ra một số tiền nhiều hơn một đồng vàng để mua chiếc nhẫn đen đúa này cả”.
Với nụ cười nhẹ trên khuôn mặt trầm tĩnh, nhà hiền triết đáp lời: “Bây giờ anh hãy ra tiệm vàng ở cuối ngõ kia, đưa chiếc nhẫn này cho người chủ tiệm. Đừng yêu cầu giá bán nhưng chỉ lắng nghe xem ông ta trả giá bao nhiêu”.
Chàng thanh niên đi đến tiệm vàng theo yêu cầu và sau đó quay về với vẻ mặt khác hẳn. Anh ta nói: “Thưa Ngài, những lái buôn ở chợ rõ ràng không biết giá trị của chiếc nhẫn này, người chủ tiệm vàng đã đồng ý mua nó với giá một ngàn đồng vàng. Quả thật giá của nó đã gấp cả ngàn lần so với những gì con buôn ở chợ biết được”.
Zun-Nun mỉm cười và ôn tồn bảo: -“Đó là câu trả lời của ta cho anh. bạn trẻ. Không thể đánh giá con người mà chỉ dựa vào cách ăn mặc bề ngoài. Những lái buôn ở chợ đã định giá theo kiểu đó. Nhưng những nhà buôn vàng thì không như thế.
Vàng và đá quý tồn tại bên trong mỗi con người, chỉ có thể được nhận ra và xác định giá trị nếu anh có thể nhìn thấu tâm hồn.
Cần có con tim để nhìn là cả một quá trình dài lâu. Chúng ta không thể ngang nhiên đánh giá người khác mà chỉ dựa vào những lời lẽ và cách cư xử trong một lúc nào đó. Nhiều lúc cái mà ta nghĩ là vàng hóa ra là đồng thau, những thứ ta tưởng là đồng thau thì lại chính là vàng thật".

Độc thân khó tính
Trong truyện cổ Ai Cập, Nasruddin là hiện thân của những người độc thân khó tính .
Ở một buổi trà dư tửu hậu, khi được hỏi lý do vì sao ông không lập gia đình, Nasruddin giải thích như sau:
Suốt thời thanh niên, tôi đã dành trọn thời gian để tìm kiếm người đàn bà hoàn hảo. Tại Cairo, thủ đô của Ai Cập, tôi đã gặp người đàn bà vừa đẹp, vừa thông minh, với đôi mắt đen ngời như hạt ô-liu, nhưng người đàn bà này lại không dịu dàng chút nào. Tôi đành bỏ Cairo để đi Baghdad , thủ đô Iraq, tôi tìm thấy người phụ nữ vừa đẹp, vừa thông minh, vừa dịu dàng, độ lượng, song nàng và tôi không bao giờ đồng quan điểm về bất cứ chuyện gì!
Hết người này đến người khác, người được điều này lại thiếu điều kia.
Tôi đã từng tưởng mình sẽ không bao giờ tìm được người phụ nữ lý tưởng cho cuộc đời mình.
Thế rồi một hôm, tôi gặp được nàng, người phụ nữ cuối cùng trong cuộc tìm kiếm của tôi. Nàng kết hợp tất cả những đức tính mà tôi hằng mong muốn. Nàng đúng là người hoàn hảo, nhưng cuối cùng tôi đành phải sống độc thân suốt đời vì người phụ nữ ấy cũng đang đi tìm một người đàn ông lí tưởng mà dưới mắt nàng, tôi là người đàn ông còn quá nhiều thiếu sót!“.
Nasruddin trong câu chuyên đã quên một trong những quy luật cơ bản của cuộc sống là luật thích nghi. Thay vì bắt người khác và cuộc sống phải thích nghi với chúng ta, chính chúng ta phải tìm cách thích nghi với cuộc sống và người khác .
Tâm lý thông thường của con người là đòi hỏi người khác hơn là đòi hỏi chính bản thân mình. Chúng ta đòi hỏi người khác phải thế này, thế kia nhưng chính chúng ta quên rằng chúng ta chưa làm được những điều mà người khác trông chờ nơi chúng ta.

Hãy mỉm cười với người không quen...
Một bệnh nhân của bác sĩ Motto đã nhảy cầu Golden Gate tự tử vào năm 1963. Nhưng một vụ tự tử khác xảy vào khoảng năm 1970 đã để lại cho ông một dấu ấn khó quên. Ông kể:
"Tôi bước vào căn chung cư của anh ta cùng với một y tá để khám xét. Anh ta vào khoảng 30 mươi mấy tuổi, căn phòng của anh rất ít đồ đạc. Tôi tìm thấy một tấm giấy trên bàn làm việc của anh ta với hàng chữ ghi chú: "Tôi sẽ đi bộ trên cầu. Nếu có ai đó mỉm cười với tôi, tôi sẽ không nhảy xuống..."
Hãy nhớ rằng khi anh giúp một người, coi như anh giúp cả thế giới nầy.


Ngụ ngôn Phật giáo
Ngày cuối cùng
Xưa kia có vị quốc vương tôn sùng Phật pháp, kính lễ tăng bảo.
Một hôm có một đoàn ca múa từ nước khác đến, trong đoàn có rất nhiều tiết mục lôi cuốn như ảo thuật, ca múa, v.v...
Quốc vương không nỡ hưởng vui một mình bèn mời vị trụ trì của ngôi quốc tự cùng thưởng thức. Vị Sư trụ trì bởi lệnh vua khó từ nên đành tới ngồi xem.
Khi biểu diễn, chỉ có vị Sư ngồi cúi mặt xuống không nhìn, trong lúc Quốc vương bên cạnh không ngừng vỗ tay phấn khởi.
Sau buổi trình diễn, Vua hỏi Sư tiết mục nào đặc sắc nhất, người liền trả lời:
- “Lão tăng vô tâm không xem".
Vua ngạc nhiên hỏi: “Hoà thượng tại sao lại vô tâm không xem?"
Sư đáp: -“Vì đời người vô thường, chớp mắt đã chết, việc sinh tử đại sự trên mình, cho nên không có lòng thưởng thức".
Vua nghe xong bán tín bán nghi, hỏi: -“Đại sự sinh tử vô thường thực ra có quan trọng và bức thiết gì để có thể khiến ngài không có lòng dạ nào xem biểu diễn của đoàn ca múa này?"
Sư đáp: -“Không tin, xin đưa một tử tù lại, tôi sẽ chứng minh cho Ngài thấy".
Quốc vương nghe vậy bèn lập tức ra lệnh đưa một tên tử tù đến. Sư trụ trì nói với Vua:  - “Xin Ngài mời đoàn ca múa cố hết sức biểu diễn lần nữa", rồi quay lại, bảo người lấy một thùng nước đặt lên đầu tử tù, nói với anh ta: - “Nếu như đến khi các tiết mục được biểu diễn xong, nhà ngươi không để một giọt nước rơi xuống, ngươi sẽ được tha chết".

Kết quả là mãi cho đến khi diễn xong, người tử tù đó quả nhiên không để một giọt nước nào rơi xuống. Sư trụ trì hỏi người tử tù có biết đoàn ca múa diễn cái gì không? Người tử tù nói: -“Tôi còn lòng dạ nào mà chú ý đến đoàn ca múa đó đang diễn ra cái gì. Tôi chỉ toàn tâm chú ý tới thùng nước trên đầu tôi, không để cho giọt nước nào rơi ra ngoài mà thôi".
Sư trụ trì lúc bấy giờ mới quay lại nói với Quốc vương: - “Nhanh chóng của vô thường, giống như người tử tù ngày mai bị đem đi hành trảm, chỉ là cái mơ hồ qua ngày của người đời, huởng lạc của thế gian không tự biết mà thôi. Nếu mọi người đều nhìn thấy vô thường, giống như sự bức thiết sâu sắc của người tử tù bị đem đi chặt đầu, đại sự sinh tử của con người, ai còn lòng dạ nào mà xem người khác ca múa đây?"
Quốc vương nghe xong chợt tỉnh ngộ, hiểu rõ thời gian lãng phí vô vị đã qua của người đời.
Nếu như cảm giác của mọi người có thể như người tù ngày mai sẽ chết, cảm giác đối với sinh tử cũng bức thiết và gấp gáp, đem ngày mai thành ngày cuối cùng, người ta có thể phát hiện biết bao việc chưa làm, còn biết bao công tác chưa hoàn thành, mà thời gian lại ngắn ngủi, người ta có còn lòng dạ để chơi bời không? Có còn lòng dã để làm những việc vô nghĩa, lãng phí thời gian quý báu, ngắn ngủi không?


Những Dấu Chấm Câu...trong cuộc đời
Có người kia đi đường chẳng may đánh mất dấu phẩy (,). Anh ta trở nên sợ những câu phức tạp và chỉ tìm những câu đơn giản. Đằng sau những câu đơn giản là những ý nghĩ đơn giản.
Sau đó, không may, anh ta lại làm mất dấu chấm than (!) Anh bắt đầu nói khe khẽ, đều đều, không ngữ điệu. Anh không cảm thán, không xuýt xoa. Không gì có thể làm anh ta sung sướng, mừng rỡ hay phẫn nộ nữa cả. Đằng sau đó là sự thờ ơ đối với mọi chuyện.
Kế đó, anh ta đánh mất dấu chấm hỏi (?) và chẳng bao giờ hỏi ai điều gì nữa. Mọi sự kiện xảy ra ở đâu, dù trong vũ trụ hay trên mặt đất hay ngay trong nhà mình mà anh ta không biết, anh ta đánh mất khả năng học hỏi. Đằng sau đó là sự thiếu quan tâm với mọi điều.
Một vài tháng sau, anh ta đánh mất dấu hai chấm (:). Từ đó anh ta không liệt kê được, không còn giải thích được hành vi của mình nữa. Anh ta đổ lỗi cho tất cả, trừ chính mình.
Cứ mất dần các dấu, cuối cùng anh ta chỉ còn lại dấu ngoặc kép () mà thôi. Anh ta không phát biểu được một ý kiến nào của riêng mình nữa, lúc nào cũng chỉ trích dẫn lời của người khác. Thế là anh ta hoàn toàn quên mất cách tư duy.
Cứ như vậy, anh ta đi đến dấu chấm hết (.)!

Thiếu những dấu chấm câu trong một bài văn, có thể bạn chỉ bị điểm thấp, vì bài văn của bạn mất ý nghĩa, nhưng mất những dấu chấm câu trong cuộc đời, tuy không ai chấm điểm nhưng cuộc đời bạn cũng mất ý nghĩa như vậy.
Mong bạn hãy giữ gìn những dấu chấm câu của mình, bạn nhé!


Dụng tâm - Tâm dụng
Trong cuộc sống, có nhiều người (nam lẫn nữ) rất thích trang điểm cho mình, luôn luôn chú ý dáng vẻ bên ngoài của mình. Không phải đồ ăn ngon thì không ăn, không phải quần áo nhãn hiệu tốt thì tránh mặc trên người. Tất cả đều phải đẹp, danh tiếng. Họ không chịu nổi cho dù là một chút thô kệch, giản dị. Có người còn bỏ tiền đi mỹ viện sửa sang sắc đẹp, không khi nào không muốn cho dáng vẻ cơ thể của mình được xinh đẹp hơn.
Một nhà vật lý đã phân tích:
"Chất sắt trong con người tổng hợp lại không quá 2 cái đinh sắt. Phốt pho trong con người tổng hợp lại ước chừng hơn 2 bao diêm. Canxi trong con người tổng hợp lại ước chừng nửa cân thức ăn gia súc. Nhiệt lượng có thể đốt nóng, trong cơ thể con người khoảng chừng 2,5 kg than. Lượng nước trong cơ thể con người đại khái khoảng 3 bình nước khoáng.”
Nói chung những thứ còn thừa lại không có tác dụng gì, phân tích hợp lại, tính theo thời giá hiện nay chưa đến 10 đồng! Nếu bạn là người có chút tri thức kinh tế, sẽ phát hiện không cần tu sửa bảo dưỡng những thứ đồ không đáng giá 10 đồng đó bằng cách tiêu tốn quá nhiều thời gian và tiền bạc.
Giá trị của con người, nếu phân tích từ các nguyên tố cơ bản, thực tế không đáng bao nhiêu tiền. Giá trị đích thực là ở lĩnh vực tinh thần của nó là: Người có tư tưởng, suy nghĩ, sáng tạo và phát minh.
Khi trí tuệ bừng sáng, nó không ngừng tăng cường bổ sung, không ngừng tiếp thu sáng tạo, không ngừng đi truy cầu hạnh phúc của nhân loại, mà phí tổn biết bao tâm huyết.
Một số người có thể đem tiền đi tiêu phí để tìm lại nét thanh xuân trên khuôn mặt và dáng vẻ bề ngoài, ngược lại bỏ ra rất ít thời gian và tiền bạc dành cho "Tâm" mình khiến cho nó thêm phát quang, xán lạn.
"Tâm" mà vô dụng thì có gì khác cỏ mọc ruộng lúa? Nó không có giá trị đối với con người, cũng không phát huy được hết trách nhiệm và nghĩa vụ làm người.
Bỏ một chút thời gian ngồi xuống xem lại "Tâm" mình còn không?
Đồng thời luôn lau chùi, không để cho nó mất đi ánh sáng vốn dĩ đã có của nó. Nếu như có, xin tiếp tục gìn giữ cho nó sáng. Nếu như không thấy nó cũng đừng nên lo lắng, đó chỉ là do đã lâu không dùng nên nó tạm thời tiềm phục. Chỉ cần bạn chú ý đến nó, quán chiếu nó, nó sẽ tái hiện.

Tiếng Thị Phi
Trong một buổi nhàn hạ, vua Đường Thái Tông hỏi chuyện với vị quan cận thần là Hứa Kính Tôn rằng:
- Trẫm thấy khanh phẩm cách cũng không phải là phường sơ bạc. Sao lại có nhiều tiếng thị phi chê ghét như thế?
Hứa Kính Tôn trả lời:
- Tâu bệ hạ. Mưa mùa Xuân tầm tả như dầu, người nông phu mừng cho ruộng đất được thấm nhuần, kẻ bộ hành lại ghét vì đường đi trơn trợt. Trăng mùa thu sáng vằng vặc như gương treo trên bầu trời đêm, hàng thi nhân vui mừng gặp dịp thưởng du ngâm vịnh, nhưng bọn đạo chích lại ghét vì ánh trăng quá sáng tỏ.
Trời đất kia vốn vô tư không thiên vị, mà cơn nắng mưa thời tiết vẫn bị thế gian trách hận ghét thương. Còn hạ thần cũng đâu phải một người vẹn toàn thì làm sao tránh khỏi tiếng chê bai chỉ trích.
Cho nên ngu thần trộm nghĩ. Đối với tiếng thị phi trong thế gian nên bình tâm suy xét, đừng nên vội tin nghe. Vua tin nghe lời thị phi thì quan thần bị hại. Cha mẹ tin nghe lời thị phi thì con cái bị ruồng bỏ. Vợ chồng tin nghe lời thị phi thì gia đình ly tán. Tiếng thị phi của thế gian nọc độc còn hơn rắn rết, bén hơn gươm đao, giết người không thấy máu.


(Von: tt101027@gmx.de)
Thân tặng mấy bà bạn Daidong ...

... tự dợt với nhạc - Nhớ mở cái nầy gần chỗ ẩm thực để tiện việc "kiềm chế" năng lượng
Hêhê, ăn nhiều/làm việc ít quá, chắc mấy bà phải cần bài tập?

Von: Lili Tran <lilipostal@yahoo.com>
THE MOST UNIQUE BUILDINGS IN THE WORLD
(Click vào đây xem lớn)
SOME OF THESE BUILDINGS ARE UNREAL. OUTSTANDING ARCHITECTS.
1. Mind House (Barcelona, Spain) 2. Stone House (Guimares, Portugal) 3. Lotus Temple (Delhi, India) 4. Cathedral of Brasilia (Brazil) 5. La Pedrera (Barcelona, Spain) 6
. Atomium (Brussels, Belgium)8. Museum of Contemporary Art (Niteroi, Rio de Janeiro, Brazil) 7. Low impact woodland house (Wales, UK) 8. Guggenheim Museum (Bilbao, Spain) 9. Rotating Tower, (Dubai, UAE) 10. Habitat 67 (Montreal, Canada 11. Casa da musica (Porto, Portugal) 12. Olympic Stadium (Montreal, Canada) 13. Nautilus House (Mexico City, Mexico) 14. The National Library (Minsk, Belarus) 15. National Theater (Beijing, China) 16. Conch Shell House, (Isla Mujeres, Mexico) 17. House Attack (Vienna, Austria) 18. Cubic Houses (Kubus woningen) (Rotterdam, Netherlands) 19. Ideal Palace (France) 20. The Church of Hallgrimur (Reykjavik, Iceland) 21. The Museum of Play (Rochester, USA) 22. Atlantis (Dubai, UAE) 23. Montreal Biosphere (Canada) 24. Wonder works (Pigeon Forge, TN, USA) 25. Kunsthaus (Graz, Austria) 26.. Forest Spiral (Darmstadt, Germany) 27. Wooden Gagster House (Archangelsk, Russia)...

World's Most Creative Buildings

The Basket Building (United States)
What started out as a dream by Dave Longaberger, Founder of The Longaberger Company, has been built Home Office into a giant basket to house the entire corporate offices of the company. Dave believed the idea was one of his best and would draw attention to the company, while simultaneously helping to build our brand. However, when he started spreading the idea of building a Home Office that was really a basket, he found that most people just thought that Dave was making a joke as Dave was a notorious practical joker. Not only did the bankers, architects and construction companies not take Dave seriously, neither did many of the employees who worked for The Longaberger Company, but Dave persevered. The dream was achieved on December 17, 1997 when the Home Office that is designed to resemble a basket finally opened for business.

The Dancing House (Czech Republic)
The Dancing House is the nickname given to an office building in downtown Prague, Czech Republic. It was designed by Croatian-born Czech architect Vlado Milunic in co-operation with Canadian architect Frank Gehry on a vacant riverfront plot (where the previous building had been destroyed during the Bombing of Prague in 1945). The construction started in 1994 and was finished in 1996.
The very non-traditional design was controversial at the time. Czech president Vaclav Havel, who lived for decades next to the site, had supported it, hoping that the building would become a center of cultural activity. Originally named Fred and Ginger (after Fred Astaire and Ginger Rogers - the house vaguely resembles a pair of dancers) the house stands out among the Neo-Baroque, Neo-Gothic and Art Nouveau buildings for which Prague is famous.
On the roof is a French restaurant with magnificent views of the city. The building's other tenants include several multinational firms. (The plans for a cultural center were not realized.) Because it is situated next to a very busy road it depends on forced air circulation, making the interior somewhat less pleasant for its occupants.

The Piano House (China)
This unique piano house was built recently in An Hui Province, China. Inside of the violin is the escalator to the building. The building displays various city plans and development prospects in an effort to draw interest into the recently developed area.

Kansas City Library (United States)
Kansas City Library has one seriously cool façade. Local residents were asked to nominate influential books that represent Kansas City, humungous versions of the winning nominations were then used as the exterior of the library car-park.


The Robot Building (Thailand)
The Robot Building, located in the Sathorn business district of Bangkok, Thailand, houses United Overseas Bank's Bangkok headquarters. It was designed for the Bank of Asia by Sumet Jumsai to reflect the computerization of banking; its architecture is a reaction against neoclassical and high-tech postmodern architecture.
The building's features, such as progressively receding walls, antennae, and eyes, contribute to its robotic appearance and to its practical function. Completed in 1986, the building is one of the last examples of modern architecture in Bangkok and has garnered international critical acclaim.

The Blue Building (Netherlands)
The borough of Delfshaven, Rotterdam, asked Schildersbedrijf N&F Hijnen to come up with a plan for a block of derelict buildings, which will eventually be demolished. The agreement with the neighbourhood is that the block will remain blue as long as there isn't a new plan for the area.
This was once one of the most unseen blocks of houses in Rotterdam, and by applying a layer of only 2 micron of blue paint onto it, it became Rotterdam's most photographed one.


The Astra House (Germany)
The strange building is actually a brewery in Hamburg, Germany. The floors can move up or down on it's skinny column core. As of now, the unique building has been destroyed. One of it's more famous beer brands was recently bought by a big refreshment corporation. And that beer brand was called Astra.

The Crooked House (Poland)
Polish architect of the Crooked House, Szotynscy Zaleski, was inspired by the fairytale illustrations of Jan Marcin Szancer and the drawings of the Swedish artist and Sopot resident Per Dahlberg. The most photographed building in Poland, the 4,000 square meter house is located in Rezydent shopping center in Sopot, Poland.


Sam Kee Building: six feet deep, world's thinnest (Canada)
The Sam Kee building is situated at 8 West Pender Street. It runs from the corner of Pender and Carral to the lane at the halfway point of the block. It is two storeys tall and 1.5 meters (six feet) deep. The story behind the building is as exotic as the structure with several intriguing twists and turns included in its telling. The City of Vancouver provided the original owner, Chang Toy, with a challenge when it expropriated all but two meters of his property as part of an expansion of Pender Street. No compensation was provided to its owner who was left with what most believed to be a useless property. In a creative turn of events fuelled by spite and some say a bet an architect was hired to design a building to fit the remaining property. The rest is history in more ways than one.
This building was home to 13 businesses at one time. It was the only place in Chinatown for residents to enjoy hot baths. There is a tunnel beneath the building that was used as an escape route from raids on Opium dens situated on neighbouring Shanghai Alley. The building is also fronted by the only remaining glass sidewalk in Chinatown. As part of the ongoing history of this structure, issues still arise between the owners and the city with respect to encroachment and overhangs. In spite of each side having an element of right it seems to boil down to the proverbial "tit for tat". It makes for an interesting study in civics.


Lý do cuối cùng...
Bà Tú Anh là thẩm phán tại toà, hàng ngày gặp rất nhiều vụ án nhỏ trong huyện. Sáng nay vừa đến phòng làm việc, liền cùng cô thư ký Tiểu Triệu đến phòng số 5 để giải quyết một vụ ly hôn.
Đôi ly hôn được toà mời đến khoảng hơn 30 tuổi. Người chồng da mặt võ vàng, gầy gò, đôi mắt đờ đẫn vô hồn, nhưng có thể thấy vẫn là một chàng trai mi thanh mục tú. Tinh thần người vợ cũng vô cùng tiều tuỵ, mắt hõm quầng thâm, nhưng sự mỏi mệt không che lấp được thời trẻ trung xinh đẹp.
Cũng giống các đôi vợ chồng đòi ly hôn khác, bà Tú Anh phải nhiều lần thuyết phục, phân tích, hoà giải, không đem lại kết quả thì mới giải quyết thủ tục ly hôn. Với đôi này, người chủ động ly hôn là anh chồng, vì chỉ một lý do khai báo là "tình cảm không hợp" nữa, trong khi chị vợ thì cự tuyệt sự ly hôn. Hai bên không cãi vã, chỉ im lặng. Bà Tú Anh và thư ký hỏi mãi vẫn không tìm hiểu được gì, lại càng khó hiểu.. Cuối cùng, bà nghĩ ra một cách, chia hai người ra hai phòng, yêu cầu họ viết ra giấy 21 lý do tại sao đòi chia tay và kiên quyết không muốn bỏ nhau?
Bên nữ đưa ra 21 lí do cự tuyệt sự ly hôn:
1. tôi còn yêu anh ấy.
2. tôi đã quen mỗi sáng đều tỉnh dậy vì anh ấy hắt hơi
3. mỗi sớm tôi thích được đưa cho anh bàn chải đánh răng, đun sữa cho anh
4. mỗi khi đi làm tôi thich được khoác áo cho anh
5. lúc đi làm chúng tôi cùng đi ra trạm chờ xe
6. tôi đã quen giặt cho anh ấy những bộ quần áo đầy mùi thuốc lá
7. tôi thích xắp xếp lại những cuốn sách bị vứt lung tung của ảnh
8. tôi đã quen sang đường được anh ấy dắt tay
9. tôi đã quen được anh ấy thổi cát trong mắt tôi
10. tôi thích cắt móng tay cho anh ấy
11. tôi đã quen được chải đầu cho anh
12. tôi đã quen được ủ trong áo rét của anh khi mùa đông đến
13. tôi thích đươc gọt hoa qủa cho anh ấy dùng
14. tôi đã quen nhìn anh ấy cầm trong tay một bông hồng ngồi chờ tôi ở công ty
15. tôi đã quen được ôm anh như đứa trẻ khi anh ấy uống rượu say
16. tôi quen được đọc to báo bên ngoài nhà tắm khi anh ấy tắm
17. tôi thích được làm Mónmieens cá anh ấy thích
18. tôi quen được bón từng thìa thuốc khi anh ốm
19. tôi thích được mátxa cho anh ấy khi anh bị đau lưng
20. tôi nhớ mãi lần tiếp xúc ngọt ngào đầu tiên
21. tôi thích được già đi cùng năm tháng với anh ấy
Những lý do chỉ ghi toàn là "tôi thích" khiến cho cô thư kí Tiểu Triệu cũng buồn cười...

Bà Tú Anh xem bản "lí do" của anh chồng:
1. tôi ghét phải dùng chung bàn chải đánh răng và khăn với cô ấy
2. tôi ghét cô ấy thấy mùi trong quần áo của tôi
3. tôi ghét cùng ngáy ngủ với cô ấy trên một chiếc giường
4. tôi ghét khi cô ấy cứ ăn một miếng lại đút cho tôi một miếng hoa quả
5. tôi ghét cô ấy cứ soi mói nhữ ng trang bút kí tôi đã bỏ đi
6. tôi ghét cô ấy cứ ôm một đóng ảnh Quỳnh Dao, lại khóc ướt hết cả người tôi
7. tôi ghét cô ấy mỗi khi qua đường cứ kéo tay tôi không chịu buông
8. tôi ghét cô ấy dùng lược cào vào đầu tôi
9. tôi ghét cô ấy dấu những chai rượu quý tôi mua xuống gầm nhà
10. tôi ghét cô ấy kéo tôi đi lang thang trong các cửa hiệu thời trang
11. tôi ghét cô ấy cứ chờ đợi lo lắng khi tôi làm thêm giờ về muộn
12. tôi ghét cô ấy viết những mẩu tin nhắn khiến tôi phát ngán
13. tôi ghét cứ phải đi cùng cô ấy tới trạm xe khi mà cô ấy cứ ôm cứng lấy lưng tôi
14. tôi ghét cô ấy cứ rửa sạch gạt tàn thuốc lá của tôi
15. tôi ghét cô ấy cứ như Mẹ tôi nựng nịu khi bón từng thìa thuốc cho tôi trong bệnh viện
16. tôi ghét cô ấy cứ lấy giấy tờ của tôi để gói hoa quả
17. tôi ghét khi đi làm cô ấy để lại vết son môi trên trán tôi
18. tôi ghét nhân lúc tôi ngủ, cô cắt trộm móng tay tôi
19. tôi ghét cô ấy pha thêm nước vào rượu của tôi
20. tôi ghét cô ấy vô cớ, vô căn cứ thích được cùng tôi biến thành già
Xem xong, bà Tú Anh vô cùng bối rối, cảm thấy những điều nại ra chưa đủ trầm trọng để đi đến chuyện ly hôn giữa đôi vợ chồng. Bà xem lại một lượt mới phát hiện ra trên giấy anh chồng chỉ có 20 lí do, còn thiếu một.
Bà vừa bước vào phòng vừa hỏi: - "Anh sao ghi thiếu mất một lý do vậy?", nhưng bà phát hiện ra người đàn ông không còn ngồi trong đó nữa...

Trên bàn, còn tờ giấy xin ly hôn thiếu chữ ký người vợ. Bên trên có 2 tờ khác. Một tờ ghi: "Lý do thứ 21 là tôi vẫn còn yêu cô ấy", còn tờ kia là một tờ chuẩn đoán bịnh ung thư gan tới thời kỳ cuối...


Còn Hơn Cả Tình Yêu ?
John Blanchard rời khỏi băng ghế, chăm chú nhìn dòng người đang ra khỏi nhà ga xe lửa trung tâm thành phố. Anh đang chờ người con gái mà trái tim đã rất quen thuộc với anh nhưng khuôn mặt thì anh chưa từng gặp - một cô gái với một bông hoa hồng.

13 tháng trước đây trong một thư viện ở Florida, khi nhấc một cuốn sách ra khỏi kệ anh bỗng cảm thấy bị lôi cuốn, không phải vì nội dung cuốn sách mà vì những dòng chữ viết bằng bút chì bên lề cuốn sách. Những hàng chữ mềm mại với nội dung chứa đựng một tâm hồn sâu sắc và một trí tuệ sáng suốt. Bên trong bìa cuốn sách, nơi ghi tên người mượn, anh tìm ra tên chủ nhân của hàng chữ, đó là Hollis Maynell. Cô gái sống ở thành phố New York.
Sau đó anh viết cho cô gái một bức thư tự giới thiệu mình và mong cô trả lời, nhưng ngày hôm sau anh đã phải lên tàu ra nước ngoài tham gia cuộc chiến tranh thế giới lần thứ hai.
Trong vòng một năm và một tháng sau đó, hai người dần dần tìm hiểu nhau qua thư từ. Mỗi lá thư là một hạt giống được gieo vào trái tim nồng cháy. Một mối tình nẩy nở. Anh đề nghị cô gái gởi cho mình một tấm hình nhưng cô gái từ chối. Cô cho rằng nếu chàng thực lòng thì diện mạo của cô đâu có quan trọng gì.
Cuối cùng đến ngày anh từ Châu âu trở về, họ hẹn sẽ gặp nhau lần đầu tại nhà ga trung tâm thành phố New york vào lúc 19h. Cô gái viết: "Anh sẽ nhận ra em là người có một bông hồng trên ve áo".
Khi đó, anh thấy một người con gái bước lại phía anh, cô ấy có một thân hình mảnh mai thon thả. Những cuộn tóc vàng loăn xoăn bên vành tai nhỏ nhắn. Cặp mắt cô ấy xanh như những đoá hoa. Đôi môi và cằm cô ta có nét cương quyết nhưng rất dịu dàng. Trong chiếc áo vét màu xanh nhạt, cô gái trông như mùa xuân đang tới. Anh tiến lại phía cô gái và hoàn toàn không để ý là cô ấy không có bông hồng trên ve áo. Khi anh bước tới, cô gái nở một nụ cười nhẹ nhàng hấp dẫn trên vành môi và nói nhỏ: "Đi cùng em chứ, chàng thuỷ thủ?".
Khi ấy hầu như không tự chủ được, anh bước thêm một bước nữa lại phía cô gái và đúng lúc ấy anh nhìn thấy Hollis Maynell với bông hồng đứng ngay sau cô gái. Đó là một người đàn bà đã ngoài 40 tuổi. Bà ta có mái tóc màu xám bên trong một chiếc mũ đã cũ. Bà ta có một thân hình nặng nề, đôi chân mập mạp trong đôi giày đế thấp. Khi đó cô gái trong chiếc áo màu xanh vội vã bước đi. Anh có cảm giác dường như con người anh lúc đó bị chia làm hai, một nửa mong muốn được đi theo cô gái và một nửa hướng tới người đàn bà mà tâm hồn đã thật sự chinh phục anh. Và bà ta đứng đó, khuôn mặt béo tốt với làn da nhợt nhạt nhưng hiền lành và nhạy cảm. Khi đó bỗng nhiên anh không còn lưỡng lự nữa. Tay anh nắm chặt cuốn sách nhỏ cũ kỹ giống như cuốn sách trong thư viện trước đây để cô gái có thể nhận ra anh.

Đây không phải là tình yêu nhưng là một cái gì đó rất đáng quý, một cái gì đó thậm chí có thể còn hơn cả tình yêu, một tình bạn mà anh luôn luôn và mãi mãi biết ơn. Anh đứng thẳng chào người đàn bà, chìa cuốn sách ra và nói, mặc dù khi nói anh cảm thấy cổ họng mình bị nghẹn lại vì cay đắng và thất vọng: "Tôi là trung uý John Blanchard và xin phép được hỏi chắc đây là cô Maynell? Tôi rất vui mừng là cô đã có thể đến đây gặp tôi hôm nay. Tôi muốn mời cô dùng cơm tối có được không?".
Người đàn bà nở một nụ cười bao dung và trả lời: "Ta không biết việc này như thế nào con trai ạ, nhưng cô gái trẻ mặc chiếc áo vét màu xanh vừa đi kia đã năn nỉ ta đeo đoá hoa hồng này trên ve áo. Cô ấy nói nếu anh có mời ta đi ăn cơm tối thì nói rằng cô ấy đang đợi anh ở nhà hàng lớn bên kia đường. Cô ấy nói đây là một cuộc thử nghiệm gì đó... !"

Người ta chỉ có thể nhận ra bản chất thật sự của trái tim khi phải đối mặt với những điều không như ý muốn.
ST


Bàn về cái "Đẹp trai" của mấy đứa nhỏ...
Không gì đẹp cho bằng đẹp trai!

Người con gái đẹp như hoa, người con trai đẹp như lá. Hoa thì yếu, lá thì mạnh. Người con gái đẹp như bướm lườn, có uyển chuyển mà không có reo ca; Người con trai đẹp như chim kêu, có mặt trời xúc tích ở trong cửa sổ. Con trai đẹp mà mạnh, như núi xanh đẳng chân trời! Con gái đẹp uốn éo thuớt tha, như dòng sông Xuân. Con gái đẹp mềm, con trai đẹp giòn; núi khẳng khái, không lả lướt cho bằng sông, nhưng hùng dũng dường bao!
Người con gái đẹp là đẹp, người con trai đẹp là sống. Này hãy xem một người con trai mười chín tuổi. Đó là tuổi rất con trai. Các bộ phận của thân hình đều có một vẻ lạ lùng; vừa mởn mơ, vừa mạnh mẽ. Đó là tuổi diệu huyền, kỳ bí; người trai qua thời măng nụ, trải qua tuổi mười sáu, mười bảy, mười tám, bấy giờ người con trai đẹp như bình minh, lúc mặt trời đã lên được một sào. Đêm còn phảng phất nơi rặng núi tây; áng sáng chưa chói chang, cái gì cũng tươi sáng, mạnh mẽ mà vẫn mầm non, không gì đẹp cho bằng!
Kìa xem đôi mày to mạnh, chưa cứng rắn như mày đàn ông, còn sót lại chút óng tơ của mi tuổi nhỏ. Kìa xem cái mũi thẳng, hai cánh thường phồng; kìa xem cái miệng đẹp đẽ tươi cười, dưới cằm đã lộ chiều quả quyết. Trên môi loáng thoáng như bóng hình râu mép nhưng không, đó chỉ là lông tơ. Trán phẳng như thạch bàn, tóc ngắn, chải vừa phải, cái gáy xanh mạnh như bật chồi.
Còn ngực thì bắt đầu nở nang, tay còn nở nang vừa; bụng thóp, đùi tuy chắc chắn nhưng vẫn tơ măng; ống chân cao, vút lên một cái như sắp nhảy. Khi người con trai đi, có phải gót giầy kêu hay lắm không? Gót sang sảng, rực rỡ dường nào! Chân chắc mạnh, đi vững vàng; ngực kiêu hãnh, cổ thẳng đứng, mặt quang đãng, như mặt trời đã mọc ở nơi trán, như chim chóc đã kêu ở trên vai.
Nhưng không cần phải phân tích như thế; ta cứ tự nhiên mà lĩnh hội cái đẹp trai. Cái đẹp trai quí hóa vô cùng! Vì nó càng dễ tắt hơn cái đẹp gái. Người con gái có phấn son, áo quần màu mẽ; cho đến lúc thành đàn bà, thành mẹ thì cũng " gái một con trông mòn con mắt" ; chứ người con trai; cái đẹp mau biến hóa lắm thay! Đã thành đàn ông mà còn đẹp, thì cái đẹp cũng không còn phải là đẹp trai nữa. Nó khó khăn như vậy, nên người đời mới định cho một chữ "đẹp trai".
Hãy nghiệm chữ đẹp trai mà xem. Chữ ấy phải để cho bọn con trai; có vợ rồi, chữ dùng sẽ kém đẹp. Mà người đời vô tâm mà tinh xảo lắm nhỉ! Đã nói đẹp trai, lại còn nói " trai tơ" ; trai tơ nghe lại còn hiếm hoi hơn gái tơ nữa.
Mười bốn tuổi, chỉ là một thằng con nít; mười sáu tuổi, còn rụt rè như con gái; mười bảy rồi mười tám, lúc ấy hơi dương mới ấm áp như xuân ướm về. Bước sang mười chín: đêm tan rõ ràng là một buổi rạng ngày. Tuổi mười tám đã dương tráng, nhưng chưa được dòn dã; đến mười chín tuổi; thì thực dòn dã mà đang còn nụ hoa; cái tuổi đó là tuổi đẹp nhất. Rồi sang hai mươi, cũng còn như thế; hăm hai, rực rỡ hoàn toàn; hăm bốn: cái đẹp hóa thành cái mạnh; hăm sáu: đó là tuổi một người đàn ông. Ngắm lại tuổi xuân thật chẳng dài, tuổi đẹp trai chẳng lâu gì lắm; nên sắc đẹp trai thật là một hạt ngọc trong đời!
Cứ mỗi mùa xuân, gái tơ đến lứa, thì trai tơ cũng lồ lộ một vừng. Mặt trời trai trẻ mọc ở đôi khuôn mặt hùng anh. Đó là cái đẹp của khí dương, nhưng lại một vài năm, trước khi hòan tòan thành sức mạnh. Trước khi thành cái sức tranh đấu, cái sức chinh phục, khí dương còn ngừng lại làm duyên, tự ngắm nghía mình, say mộng hoa hương.
Ngày mai, vào giữa đời, không biết một cái nhíu mày của Chúa Xuân sẽ làm rụng rời bao nhiêu lòng thiếu nữ?

__________________


THE KID
The opening title reads: "A comedy with a smile--and perhaps a tear". As she leaves the charity hospital and passes a church wedding, Edna deposits her new baby with a pleading note in a limousine and goes off to commit suicide. The limo is stolen by thieves who dump the baby by a garbage can. Charlie the Tramp finds the baby and makes a home for him. Five years later Edna has become an opera star but does charity work for slum youngsters in hope of finding her boy. A doctor called by Edna discovers the note with the truth about the Kid and reports it to the authorities who come to take him away from Charlie. Before he arrives at the Orphan Asylum Charlie steals him back and takes him to a flophouse. The proprietor reads of a reward for the Kid and takes him to Edna. Charlie is later awakened by a kind policeman who reunites him with the Kid at Edna's mansion.
(Click vào hình xem lớn)


Kép độc nhảy với hai bà ...
SOUND THERAPY
Phương pháp trị liệu bằng âm thanh

Chuyện trong, đục…
Sách Phật kể rằng trong một kiếp, Đề Bà Đạt Đa và Phật cùng đầu thai làm con cá chép.
Con cá chép là Đề Bà Đạt Đa chỉ thích bơi vào chỗ dòng nước trong vắt để phô bày cái hình dáng tuyệt đẹp của mình. Những giống xấu xí khác như cá mại, cá mè, cả lũ đòng đong cân cấn cứ rùng rùng bám theo, vừa bơi vừa luôn miệng trầm trồ. Trái lại, con cá chép là Phật thì chỉ luẩn quẩn trong những chỗ nước đục, chẳng con nào thèm để ý tới làm gì.
Một bữa có con chim bói cá đậu trên cây nhòm xuống. Trong làn nước trong vắt, nó nom rõ con cá chép Đề Bà Đạt Đa, liền lao xuống đớp gọn rồi nuốt chửng vào bụng. Đề Bà Đạt Đa chui vào bụng con chim bói cá, chẳng bao lâu bị nó tiêu hoá, biến thành một cục phân. Chim bói cá bay qua sông, ỉa cục phân đó xuống giữa đàn cá vẫn thường bơi theo Đề Bà Đạt Đa khi trước. Lập tức, từ cá mại, cá mè đến lũ đòng đong cân cấn đều tỏ ra hết sức ghê tởm. Con nào con nấy vội cố hết sức bơi vào chỗ nước đục để lẩn trốn. Sau đây là mẩu đối thoại giữa cục phân Đề Bà Đạt Đa và Phật:
- “Ngài thấy tôi bây giờ so với trước thế nào?” – Cục phân hỏi.
- “Không khác gì cả” – Phật trả lời.
- “Thế tại sao lũ mạt hạng kia giờ lại xa lánh tôi?” – Cục phân hỏi tiếp.
- “Bởi bây giờ chúng mới nhìn rõ ngài thực ra là cái gì” – Phật trả lời.
“Ôi! Giá như ta đừng chọn chỗ nước trong” – Cục phân than thở.

Trong một lần giảng giáo lý Đại thừa, một vị Tổ của thiền tông kể rằng kiếp trước ông từng là một con sáo.
Một bữa đang bay lượn, chợt bắt gặp một quả bầu rất to, sáo bèn khoét một lỗ rồi chui vào. Bảy bảy bốn chín ngày nằm trong đó, chén hết già nửa ruột bầu thì bỗng ngộ ra ba nghìn thế giới. Mừng vì đắc đạo, vị thiền sư (con sáo) bèn chui ra khỏi quả bầu rồi bay mãi, bay mãi…
Bầu trời trước mắt ông như khác hẳn, rộng bao la và thơm ngát mùi hương. Tất cả, từ một sợi lông cho đến những quả núi, cánh rừng… đều được thu vào cặp mắt chỉ bé bằng hai hạt tấm của ông.
Mới hay sự đắc đạo là vô cùng thoả chí. Có lẽ ông sẽ bay mãi như thế, tự do tự tại, như lai như ý không gì câu thúc, không cần phải xác định phương hướng… nếu ông không vô tình bay qua một dòng suối.
Dòng suối trong veo, nhìn thấu tận đáy. Nước suối ấy có thể rửa sạch mọi thứ. Có ai ngờ nó lại “rửa” luôn cả cái tâm Phật vừa mới được nhen nhúm trong ông. Soi mình xuống dưới, thiền sư bỗng thấy mình rõ ràng đang là một… con nhặng. Vậy mà ông vẫn không hề kinh ngạc (đã là thiền sư thì không bao giờ kinh ngạc). Có điều đôi cánh của con nhặng lúc đó dường như cứ bị hút về một phương trời nào đấy không thể cưỡng nổi. Lại bay mãi, bay mãi… Cuối cùng té ra ông lại trở về đúng cái quả bầu ấy.
Bấy giờ quả bầu nó đã thối nhủn từ bao giờ. Con nhặng là ông bị cái mùi thối ấy hấp dẫn, lập tức lao vào thò vòi ra hút lấy hút để… Thế là toi một kiếp tu hành. Toi từ lúc nào? Thiền sư hỏi rồi tự trả lời: không phải vì ông hút phải cái thứ ruột bầu thối tha ấy. Mà toi vào đúng cái lúc ông thấy mình là một con nhặng.
Kể đến đây, thiền sư chép miệng: giá như dòng suối kia đừng có trong vắt như thế, mà nó đục ngầu, thì ông đã đắc đạo ngay từ kiếp đó rồi. Và câu chuyện ấy đã giải thích tại sao con người hiện đại ngày nay không thể trở thành thiền sư.

Cũng vẫn vị Tổ ấy, một hôm muốn truyền lại y bát, bèn hỏi đệ tử thứ nhất:
- “Trước mắt con là hai cốc nước, một trong, một đục. Con chọn cốc nào?”
Đệ tử thứ nhất trả lời: - “Con chọn cốc nước trong.”
Sư nhắm mắt không nói gì. Đệ tử thứ nhất lui ra. Đệ tử thứ hai vào. Thiền sư vẫn hỏi câu ấy. Đệ tử thứ hai trả lời:
- “Con chọn cốc nước đục.”
Sư lại nhắm mắt không nói gì. Đến lượt đệ tử thứ ba. Nghe xong câu hỏi, đệ tử thứ ba lặng im hồi lâu. Sư hỏi:
- “Sao con không trả lời?
Đệ tử thứ ba bảo: - “Con không thể nào phân biệt được thế nào là trong, thế nào là đục…”
Sư liền trao ngay y bát chân truyền.


Tôn giáo nào tốt nhất?
Đây là một mẩu đối thoại ngắn giữa nhà thần học người Brazil, ông Leonardo Boff, và đức Dalai Lama Tây Tạng

Tại một cuộc hội thảo bàn tròn về “Tôn giáo và Tự do” có Dalai Lama và tôi cùng tham dự. Lúc tạm nghỉ, tôi hỏi ngài một cách tinh nghịch, tò mò: - “Thưa ngài, tôn giáo nào tốt nhất?
Tôi nghĩ ngài sẽ nói là “Phật giáo Tây tạng” hoặc “Các tôn giáo phương Đông, lâu đời hơn Ki-tô giáo, tốt hơn nhiều”.
Dalai Lama trầm ngâm giây lát, mỉm cười, nhìn vào mắt tôi… Điều này làm tôi ngạc nhiên vì tôi biết đây là một câu hỏi ranh mãnh.
Ngài trả lời: “Tôn giáo tốt nhất là tôn giáo đưa anh đến gần Đấng tối cao nhất. Là tôn giáo biến anh thành con người tốt hơn”.
Để giấu sự bối rối của tôi trước một câu trả lời đầy khôn ngoan như thế, tôi hỏi tiếp: “Nhưng điều gì sẽ làm tôi tốt hơn? ”
Ngài trả lời: - “Tất cả cái gì làm anh biết thương cảm hơn, biết theo lẽ phải hơn, biết từ bỏ hơn, dịu dàng hơn, nhân hậu hơn, có trách nhiệm hơn, có đạo đức hơn" và “Tôn giáo nào biến anh thành như vậy được thì tôn giáo đó tốt nhất”.
T
ôi thinh lặng giây lát, lòng đầy thán phục, ngay cả bây giờ, khi nghĩ đến câu trả lời đầy khôn ngoan và khó phản bác này.

“Anh bạn tôi ơi! Tôi không quan tâm đến tôn giáo của anh hoặc anh có ngoan đạo hay không. Điều thật sự quan trọng đối với tôi là cách cư xử của anh đối với người đồng đẳng, gia đình, công việc, cộng đồng và đối với thế giới này. Hãy nhớ rằng vũ trụ dội lại hành động và tư tưởng của chúng ta. Quy luật của hành động và phản ứng không chỉ dành riêng cho vật lý. Nó cũng được áp dụng cho tương quan con người. Nếu tôi ở hiền, thì tôi gặp lành, nếu tôi gieo gió, thì tôi gặt bão. Những gì ông bà nói với chúng ta là sự thật thuần túy. Chúng ta luôn nhận được những gì chúng ta mong muốn cho người khác. Hạnh phúc không phải là vấn đề số mệnh. Đó là vấn đề lựa chọn.”

Cuối cùng ngài nói:
- “Hãy suy tư cẩn thận vì Tư tưởng sẽ biến thành Lời nói,
Hãy ăn nói cẩn thận vì Lời nói sẽ biến thành Hành động,
Hãy hành xử cẩn thận vì Hành động sẽ biến thành Thói quen,
Hãy chú trọng Thói quen vì chúng hình thành Nhân cách,
Hãy chú trọng Nhân cách vì nó hình thành Số mệnh,
Và Số mệnh của anh sẽ là Cuộc đời của anh...
Và … "không có tôn giáo nào cao trọng hơn Sự thật" như thế


Cuộc sống hoàn hảo
Có người kia luôn mong muốn tìm cho mình một cuộc sống vẹn toàn. Ngày nọ, anh nghĩ đến phép lạ, xin Thượng đế ban cho mọi thứ từng ước ao. Thế là Thượng đế xuất hiện và bảo với anh rằng: -"Con hãy đi theo con đường lộng gió phía trước, ở đó có hàng trăm triệu hòn đá nhỏ. Ta cho con kỳ hạn là 365 ngày để nhặt một hòn đá lớn nhất mà con có thể tìm thấy. Hòn đá càng to thì ta càng ban cho con nhiều toại nguyện hơn. Điều kiện đặt ra là khi con đi qua rồi thì không được quyền quay lại. Vì vậy, hãy suy nghĩ thật cẩn thận trước khi con chọn hòn đá cho mình".
Anh ta cảm thấy thât sung sướng và bắt đầu bước vào hành trình của mình trên con đường lộng gió để tìm kiếm "hạnh phúc lớn nhất" cho cuộc đời. Tuy nhiên, mỗi khi bắt gặp một hòn đá to dọc lối đi, anh lại do dự và tự nhủ với lòng mình "chắc hòn đá kế tiếp còn sẽ to hơn nhiều". Nhiều ngày, nhiều tuần và nhiều tháng trôi qua rồi, anh cũng đi gần hết con đường và chợt nhận ra rằng đang không còn đủ thời gian và cơ hội để chọn những hòn đá to như ý. Vì vậy anh đành phải nhặt vội vàng một hòn đá nhỏ ven đường.
Cuộc sống cũng y như vậy. Chúng ta luôn tìm kiếm một người bạn đời hoàn hảo, một công việc hoàn hảo, một căn nhà hoàn hảo, một chiếc xe hoàn hảo hay một người yêu hoàn hảo... và không bao giờ nhận ra được rằng ta đang bỏ phí biết bao thời gian và cơ hội.
Không bao giờ có cái gọi là "hết sức đúng lúc" để nói một cách chính xác những gì bạn muốn bày tỏ vào chính xác một thời điểm nào đó, với chính xác môt người nào đó, hay làm một cách chính xác một công việc mà bạn muốn làm trong đời. Vậy thì, sao bạn lại không sống "cho hôm nay" và tận hưởng mỗi phút giây bạn có được trên cõi đời này?

Thế giới MotorCycle Saigon trước 1975...


USPS - Con voi chậm chạp lắm rồi!
Washington - Kinh doanh của tập đoàn Bưu chính quốc gia Hoa Kỳ USPS (The United States Postal Service /U.S. Postal Service) đang gặp phải thời kỳ khó khăn trầm trọng -theo Bloomberg Businessweek- và ngày tàn của nó dường như không còn bao xa.
USPS là một công ti khổng lồ, nơi nhân viên làm việc 6 ngày trong tuần, phát trung bình 563 triệu lá thư mỗi ngày, chiếm 40% lượng thư tín trên toàn thế giới. Với giá 44 xu, thư được giao đến bất cứ nơi nào trong nước Mỹ, nếu không có người nhận, thư được hoàn trả về chủ cũ miễn phí. Tưởng như không đâu trên trái đất có thể làm ăn dễ dãi hơn.
Muốn thực hiện được các phần việc ấy, USPS cần đến 570 ngàn công nhân viên, đông thứ nhì tại Mỹ, chỉ sau hệ thống siêu thị Wal-Mart. USPS có gần 32,000 trạm bưu điện, nhiều hơn số cửa tiệm của Wal-Mart, Starbucks và McDonald's cộng lại, nhưng trong năm 2010 qua đang gánh khoản nợ 8,5 tỷ USD và từ 10 năm qua, theo thống kê, USPS cũng đã tìm cách giảm bớt khối lượng nhân viên trong khi vẫn cố gắng tăng cường mạng lưới chuyển phát thư từ, hàng hóa và vẫn cải thiện các cấp độ dịch vụ
Doanh thu của USPS hồi năm ngoái là $67 tỉ USD, tuy vậy chi phí của họ lại còn lớn hơn. Chóp bu của cơ quan này hãnh diện khoe, nếu họ là công ty tư nhân thì ắt họ sẽ được xếp hạng 29 trong Fortune 500.
Khó khăn hiện tại của USPS rất lớn. Bưu Ðiện Mỹ sống còn nhờ ở dịch vụ thư first class, tuy nhiên lượng thư này đang giảm sút đến mức nghiêm trọng, khi người ta ngày mỗi liên lạc với nhau bằng e-mail nhiều hơn.
Dự trù số lượng 171 tỉ thư trong năm 2010 sẽ giảm xuống còn 150 tỉ vào năm 2020, đó là nếu mọi sự đều thuận buồm xuôi gió, ngược lại thì con số có thể là 118 tỉ.
Kể từ năm 2007, thu nhập của USPS không đủ để bao gồm ngân sách hằng năm, hết 80% chi vào tiền lương và quyền lợi của nhân viên. Ngược lại, FedEx Corporation (trước kia là Federal Express) chỉ tốn 43% và UPS (United Parcel Service of America, Inc.) là 61%. Rõ ràng hai đối thủ quan trọng của USPS tỏ ra lanh lợi hơn nhiều.
Ðể sống còn, USPS phải vay thêm $12 tỉ từ Bộ Ngân Khố Hoa Kỳ và năm nay là hạn định USPS phải thanh toán.
Hồi tháng 3, lúc tiếp quản USPS, tân tổng giám đốc tập đoàn là ông Patrick R. Donahoe đã đối mặt với một nhiệm vụ khổng lồ, là tìm ra chiến lược ưu tiên đảm bảo có một nền tài chính vững chãi, cho hay sẽ không trả nợ đúng kỳ hạn được vì phải dành ra $5.5 tỉ vào chi phí săn sóc y tế cho những người sắp về hưu. USPS dự trù bắt đầu phải trả nợ vào ngày 30 tháng 9, ngoại trừ được chính phủ ra tay cứu nguy. Ông Donahoe nói: “Ðến cuối năm nay là chúng tôi sẽ cạn tào ráo máng, không còn đồng nào.”
Ðây là lúc mà Hoa Kỳ cần tự vấn một thắc mắc căn bản về hệ thống giao phát thư của mình. Giao một cái thư đến tận Alaska và một cái thư trong cùng khu vực địa phương chỉ với một giá như nhau, như vậy có hợp lý không? USPS có nên điều hành một mạng lưới các trạm bưu điện lớn nhất thế giới không khi hết 80% các cơ sở này phải chịu lỗ?
Cuộc khủng hoảng kinh tế-tài chính tại HK gần đây với những áp lực liên tiếp đè nặng lên USPS bên cạnh sự chuyển hướng sang các phương tiện truyền thông điện tử đã tác động mạnh đến sản lượng thư và doanh thu của USPS. Mặc dù có nhiều thay đổi khắt khe, như giảm 75 triệu giờ làm của nhân viên và những sáng kiến phát triển, song USPS vẫn phải đối mặt với thua lỗ.
“Trong 2 năm qua, USPS đã tiết kiệm chi phí hơn 9 tỷ USD, chủ yếu nhờ cắt giảm hơn 100.000 nhân viên – một sự cắt giảm nhân sự nhiều hơn bất kỳ công ty nào khác”, Giám đốc tài chính của USPS, ông Joe Corbett, nói. “Chúng tôi sẽ tiếp tục nỗ lực không ngừng để đổi mới và cải thiện năng suất. Tuy nhiên, sự cần thiết phải thay đổi trong pháp lý, điều hành và hợp đồng lao động chưa bao giờ lại rõ ràng như lúc này”.
Doanh thu của USPS năm 2010 đạt 67,1 tỷ USD, giảm 1 tỷ USD so với năm 2009. Trong khi đó, chi phí kinh doanh năm 2010 hết xấp xỉ 70 tỷ USD (chưa kể khoản 5,5 tỷ USD chi cho các chương trình phúc lợi hưu trí), thấp hơn mức 70,4 tỷ USD năm 2009. Mức thua lỗ 8,5 tỷ USD trong năm 2010 đã cao hơn mức lỗ của năm 2009 là 4,7 tỷ USD, chủ yếu do doanh thu giảm sút và những chi phí liên quan đến lương hưu. USPS cho biết tổng sản lượng thư năm nay là 170,6 tỷ bức, giảm khoảng 3,5% so với năm 2009.
Quốc hội Mỹ đang tìm mọi cách để tiếp tục cắt giảm và tiết kiệm chi phí cho USPS sau khi hãng báo cáo khoản lỗ kỷ lục của năm 2010. Nhiều người lên tiếng về một cuộc “cải tổ toàn diện” cho USPS. Thượng Nghị sỹ Tom Carper, một người đang tham gia soạn thảo chương trình cải tổ bưu chính, cho rằng mô hình kinh doanh của USPS đang đặt ra “những mối đe dọa đáng sợ nhất trong lịch sử 200 năm qua của công ty”.
Với những kết quả kinh doanh trên, USPS hiện đang đứng trước nguy cơ hết tiền mặt vào cuối năm tới, vì thế cần tiến hành gấp các cuộc cải tổ kịp thời.
(theo Người Việt)

Đặc sản Việt...

Những tấm biển lạ lùng...

Hẻm Sài Gòn
Từ ba năm nay, tôi không ngừng khám phá Sài Gòn và Việt Nam. Tôi đến Sài Gòn lần đầu lúc trời chạng vạng tối và còn nhớ như in cảm giác khi đi từ sân bay về nhà cô bạn đồng nghiệp để lưu trú vài ngày.
Tiếng ồn, ánh đèn của bảng hiệu trên đường và dòng xe cộ đông nghịt vây quanh taxi của tôi. Xe dừng lại, cô bạn dẫn tôi đi vào con hẻm nhỏ. Tôi bắt đầu khám phá một diện mạo khác của Sài Gòn: mạng lưới hẻm. Chỉ mới vào hẻm được vài bước, tiếng ồn của con đường lớn phía ngoài đã mất dần. Một khung cảnh mới hiện ra: nhiều gia đình ngồi ăn cơm tối ngay bậc cửa, bọn trẻ chạy chơi dưới ánh mắt nhìn chăm chú của hàng xóm.
Hôm sau, trong ánh nắng ban mai, tôi khám phá màu sắc của các căn nhà và không khí nhộn nhịp của các chợ trong hẻm. Mọi thứ đều rất lạ lẫm. Tôi quyết định dạo một vòng trong hẻm và bước đi trong ánh mắt ngạc nhiên của mọi người.
Trong suốt nhiều tháng, tôi đi dạo rất nhiều lần trong các con hẻm, khi thì đi một mình, khi thì đi cùng với các bạn sinh viên hoặc chuyên gia quy hoạch đô thị Việt Nam. Lúc đầu, tôi chỉ đi dạo cho vui, sau đó là để làm đề tài tốt nghiệp ngành địa lý đô thị.
Hiện nay, tôi đang làm luận án tiến sĩ với đề tài hẻm Sài Gòn. Dần dần, tôi nhận thấy mạng lưới hẻm ở đây thật rộng lớn. Hẻm là cấp đường nhỏ nhất trong hệ thống đường đô thị, nhưng trên hết, hẻm là nơi giao lưu, trao đổi, nơi cuộc sống diễn ra và mỗi khu vực có nét đặc trưng riêng.
Mỗi lần đi dạo trong hẻm, tôi đều thấy nhiều điều ngạc nhiên: khi thì một ngôi chùa cổ (rất nhiều ở Chợ Lớn), khi thì tôi nhận ra cuộc sống cộng đồng của những người làm cùng nghề. Ở quận 3, tôi gặp con hẻm của những người chuyên làm bánh, mứt phục vụ tết; ở quận 6, tôi phát hiện hẻm nghề in và ở quận Tân Bình có hẻm thợ may.
Theo lẽ thường, người thành phố không biết nhiều về hàng xóm của mình. Thế nhưng, trong hẻm, tình làng nghĩa xóm, tinh thần tương thân tương ái gắn kết mọi người với nhau. Một người dân trong hẻm nói với tôi: “Khi có người hỏi, tôi ở đâu, tôi luôn trả lời bằng tên hẻm của mình trước. Con hẻm đối với tôi như một đại gia đình”.
Mỗi con hẻm đều có lịch sử, kiến trúc và đặc trưng riêng. Giữa hẻm chính và hẻm nhánh có sự khác biệt khá rõ nét. Chợ và hàng quán thường gắn với hẻm chính.

Hẻm nhánh như những cánh tay vươn ra từ hẻm chính, thường rất yên tĩnh và được tô điểm bằng các chậu hoa do người dân đặt ở hai bên. Hẻm nhánh thường hẹp hơn và có khi là hẻm cụt.
Khi vào hẻm, tôi cứ thế bước đi, bước đi và… rất nhiều lần bị lạc. Nhiều khi thấy tôi đi vào một con hẻm, mọi người cứ nhìn tôi rồi cười. Vài phút sau, tôi hiểu được ý nghĩa của những nụ cười đó: hết đường rồi, tôi đang ở trong hẻm cụt.
Chẳng sao cả, tôi quay trở ra và tiếp tục đi, sẵn sàng bị lạc trong mê cung đô thị đầy sức sống và cũng lắm bất ngờ. Đi vào hẻm là đắm mình vào gia đình Việt. Tôi không nhớ hết số lần mình được mọi người niềm nở mời vào tham quan nhà, uống trà và vui cười cùng các em nhỏ. Các bác lớn tuổi rất thích kể về lịch sử và những thay đổi trong con hẻm của mình. Một số bác sống ở đó từ hơn 50 năm nay.
Theo năm tháng, ngôi nhà được nâng cấp, xây thêm tầng lầu, nâng nền để chống ngập vào mùa mưa. Tuy môi trường sống có được cải thiện, nhưng nhiều người vẫn luyến tiếc thời con hẻm còn có những bụi tre hai bên, mỗi nhà đều có góc vườn nhỏ và mỗi người đều quen biết với nhau.
Những năm gần đây, dân số Sài Gòn gia tăng nhanh chóng, do đó mật độ xây dựng cũng tăng cao. Các lô đất tại các quận trung tâm và ven trung tâm thường có mật độ xây dựng lên đến 100%. Điều này lý giải tại sao trong khu vực này mật độ đô thị rất cao và có hàng ngàn con hẻm nhỏ với chiều rộng chỉ vài mét.

Tuy kế thừa những gì quá khứ để lại, nhưng các con hẻm cũng không ngừng thay đổi để phù hợp với lối sống của người dân đô thị. Ngày nay, số người sống và làm việc trong con hẻm của mình ngày càng ít vì mỗi sáng họ đi làm ở phường hoặc quận khác bằng xe gắn máy. Một số người đã chuyển nhà đi và căn nhà của họ bị đổi thành cơ sở sản xuất.
Hẻm không chỉ gắn với nơi ở mà còn gắn với hoạt động kinh tế ở đô thị. Hiện nay, chính quyền các quận đang tiến hành chương trình nâng cấp, cải tạo hẻm nhằm đáp ứng yêu cầu hiện đại hoá đô thị. Trước mắt, các hạng mục nâng cấp gồm lắp đặt hệ thống cấp, thoát nước và nâng cao hẻm. Mục tiêu xa hơn là mở rộng hẻm để xe hơi có thể vào được và tạo thuận lợi cho giao thông.

Nhiều lúc, khi giao thông trên các tuyến đường bị tắc nghẽn vào giờ cao điểm, người điều khiển xe máy không ngần ngại đi vào hẻm để tìm lối đi tắt. Điều này đôi khi gây ra xung đột trong việc sử dụng hẻm giữa một bên là phục vụ cho giao thông và một bên là phục vụ cho hoạt động thương mại như chợ, hàng quán (người dân có thể ngồi uống càphê mỗi sáng trong hẻm trong không khí nhộn nhịp).

Thách thức hiện nay đối với những nhà quy hoạch và quản lý đô thị là rất lớn: làm thế nào để vừa hiện đại hoá hẻm vừa giữ được sự đa dạng và phong phú về văn hoá – xã hội của nó.
(Marrie Gibert, ảnh: trần việt đức/SGTT )


Cô dâu "đeo khoen" kinh dị nhất thế giới
Elanie Davidson, 42 tuổi, có lẽ là người phụ nữ kinh dị nhất với gương mặt và thân thể đeo tổng cộng 6.925 chiếc vòng khoen, được công nhận trong danh bảng lập Kỷ lục Guinness thế giới là “Người phụ nữ đeo nhiều khoen nhất”. Và bây giờ bạn sẽ có cơ hội chứng kiến bà này trong trang phục cô dâu chính thức lên xe hoa hôm 8-6-2011 tại Edinburgh, Anh.
Trong đám cưới mình, bà Davidsion mặc 1 chiếc váy trắng rất lộng lẫy, đội vòng hoa và nơ bướm trên đầu. Nhưng điều nổi bật nhất khiến ai cũng phải nhìn đó chính là gương mặt của bà đeo đầy vòng khoen và được tô vẽ nhiều màu rực rỡ.
Một điều đặc biệt là chồng bà lại là một người trông rất bình thường, trái ngược hoàn toàn với bà. Ông Douglas Watson, trong ngày cưới ông mặc 1 bộ vest màu xanh đậm, áo sơ mi xanh da trời và cà vạt cũng màu xanh, tất nhiên là ông Douglas Watson chẳng có 1 chiếc khuyên nào trên người.
Elanie Davidson vốn là người Brazil, bắt đầu làm quen với nghệ thuật đeo khoen kể từ tháng 1 năm 1997. Lần đầu tiên bà được ghi tên vào sách Kỷ lục Guinness là vào tháng 5 năm 2000, khi đó sở hữu 462 chiếc khoen, trong số có 192 chiếc đeo dính mặt.
Đến hôm 13 tháng 10 năm 2004, với 2.500 khuyên có trên cơ thể, Elanie tiếp tục ghi tên vào cuốn sách kỷ lục Guinness với danh hiệu "Người phụ nữ đeo khuyên nhiều nhất". Càng ngày bà càng củng cố danh hiệu bằng cách đeo thêm ở khắp mọi vị trí như trán, tai, mũi, cằm, lưỡi... Đến nay bà đã sở hữu 6.925 chiếc khoen, nặng tới hơn 3kg. Elanie Davidson chia sẻ rằng bà sẽ không bao giờ tháo số những gì đang trang điểm trên thân, kể cả khi ngủ bà cũng không hề cảm thấy đau vì những chiếc khoen của mình.
Dưới đây là quá trình tăng dần số vòng khoen của bà:


Dangerous Maeklong Train Track Market (ตลาดแม่กลอง): Samut Songkhram, Thailand

Bạn có thể hiểu thêm về những khó khăn trong khi đi đường của người mù trên thế giới nói chung và người mù Việt Nam nói riêng; bạn cũng có thể giúp người mù Việt nam quảng bá cho “Cây gậy trắng”, một tín hiệu đi đường của người mù, sau khi bạn dành chút thời giờ để đọc bản dịch dưới đây.

AMERICAN COUNCIL OF THE BLIND
Lịch sử Ngày Cây Gậy Trắng
Cây Gậy Trắng không chỉ là một công cụ có thể dùng để đạt được sự tự lập; nó còn là biểu tượng của người công dân khiếm thị trong xã hội chúng ta. Để tôn vinh biết bao thành đạt của những người Mỹ khiếm thị và để nhìn nhận ý nghĩa của cây gậy trắng trong việc thúc đẩy tinh thần tự lập, chúng ta mừng ngày 15 tháng Mười hàng năm là “Ngày Cây Gậy Trắng.”
Ngày nay cây gậy trắng vừa là công cụ cho người khiếm thị vừa là biểu tượng của người khiếm thị, thế nhưng ngày xưa thì không phải như thế.
Xuyên suốt dòng lịch sử các loại gậy đã tồn tại như một công cụ hỗ trợ đi lại cho người khiếm thị. Các ghi chép từ thời Kinh Thánh cho thấy cây gậy của người chăn chiên đã được dùng như một công cụ hữu hiệu trong những chuyến bộ hành đơn độc. Người khiếm thị đã dùng gậy để dò những chướng ngại trên đường đi.
Suốt nhiều thế kỷ, “cây gậy” chỉ được dùng làm công cụ đi lại. Mãi tới thế kỷ 20 và cho đến hiện nay, cây gậy mới được khuyến khích cho người khiếm thị sử dụng như một dấu hiệu để báo cho người khác biết sự có mặt của một người khiếm thị.
Vai trò mới của cây gậy trắng bắt nguồn vào những thập niên giữa hai cuộc Thế chiến, khởi đầu ở châu Âu rồi lan tới Bắc Mỹ. James Biggs quê ở Bristol (nước Anh) cho rằng ông là người đã sáng kiến ra cây gậy trắng vào năm 1921. Sau một tai nạn đã tước mất thị giác của ông, nhiếp ảnh gia này đã phải thích nghi với môi trường sống của mình. Do cảm thấy bị đe doạ về lượng xe cộ gia tăng quanh nhà mình, Biggs quyết định sơn trắng cây gậy của ông để những người lái xe có thể trông thấy ông rõ hơn.
Tuy nhiên phải mất mười năm sau cây gậy trắng mới khẳng định được sự hiện diện của mình trong xã hội. Tháng Giêng năm 1931, Guilly d'Herbemont đã phát động một kế hoạch nhằm mở ra phong trào cây gậy trắng khắp nước Pháp dành cho người khiếm thị. Chiến dịch ấy được các báo của Anh tường thuật và đã dẫn tới một kế hoạch tương tự khắp Vương quốc Anh do Hiệp Hội Các Doanh Nhân tài trợ. Tháng Năm năm 1931, trong các chương trình phát thanh, đài BBC đã đề nghị cấp gậy trắng cho những người khiếm thị, để Cây gậy trắng được công nhận rộng rãi như một biểu tượng cho biết một ai đó là người khiếm thị. Tại Bắc Mỹ việc du nhập cây gậy trắng được quy cho Hiệp Hội Quốc Tế Lion. Năm 1930, một thành viên của Hiệp Hội Lion đã quan sát một người đàn ông khiếm thị sử dụng cây gậy màu đen đang cố băng qua một con đường nhiều xe cộ. Nhận thấy gậy màu đen rất khó để người lái xe thấy được, Hiệp Hội Lion đã quyết định sơn gậy màu trắng để các tài xế đang lái xe tới có thể nhìn thấy nó rõ hơn. Năm 1931, Hiệp Hội Quốc Tế Lion khởi xướng một chương trình quốc gia nhằm cổ vũ người khiếm thị sử dụng cây gậy trắng. Suốt hai thập niên 1920 và 1930, người khiếm thị đã đi với cây gậy được cầm chéo đúng tư thế, và cây gậy trắng bắt đầu mang tính biểu tượng của một sự nhận dạng. Khi các cựu chiến binh khiếm thị của Thế chiến II trở về Mỹ, kiểu dáng và cách sử dụng cây gậy trắng được cải tiến trong nỗ lự tạo cơ hội cho các cựu chiến binh tham gia vào cuộc sống đời thường tại quê nhà. Tiến sĩ Richard Hoover đã phát triển “cây gậy dài” hay còn gọi là “Phương pháp đi gậy của Hoover”. Những cây gậy trắng này được thiết kế để sử dụng như một thiết bị đi lại và đưa cây gậy trở về với vai trò ban đầu là một công cụ để di chuyển, nhưng vẫn duy trì vai trò biểu tượng của nó như một sự minh định tính tự lập của người khiếm thị.
Trong suốt thời kỳ này, cây gậy trắng bắt đầu được đưa vào chính sách của chính phủ như một biểu tượng của người khiếm thị.
Sắc lệnh Cây Gậy Trắng đầu tiên được thông qua vào tháng Mười hai năm 1930 tại Peoria, Illinois. Nhờ đó người khiếm thị nào sử dụng cây gậy trắng để đi lại đều nhận được sự bảo vệ và nhường đường. Năm 1935, Michigan bắt đầu nâng cây gậy trắng lên làm biểu tượng của người khiếm thị. Ngày 25 tháng Hai năm 1936, một sắc lệnh được thông qua để thành phố Detroit thừa nhận cây gậy trắng. Để ủng hộ sắc lệnh mới này, một cuộc biểu tình được tổ chức ở Toà Thị Chính nơi người khiếm thị được trao tặng gậy trắng. Năm sau, Donald Schuur đã soạn một dự luật và đệ trình lên Cơ quan Lập pháp của tiểu Bang. Đề nghị đó đã đem lại cho người mang Gậy Trắng sự che chở trong khi đi lại trên các đường phố ở Michigan. Thống đốc Frank Murphy đã ký thông qua luật này vào tháng Ba năm 1937.
Trong những năm đầu thập niên 1960, một số tổ chức và cơ quan phục hồi chức năng của các tiểu bang chuyên phục vụ những công dân Mỹ khiếm thị đã hối thúc Quốc Hội công bố ngày 15 tháng Mười hàng năm là Ngày An Toàn của Cây Gậy Trắng ở tất cả năm mươi tiểu bang. Sự kiện này đánh dấu giây phút đỉnh điểm trong chiến dịch lâu dài của phong trào người khiếm thị có tổ chức để giành được sự nhìn nhận của các tiểu bang cũng như của cả nước đối với cây gậy trắng. Ngày 6 tháng Mười năm 1964, một nghị quyết chung của Quốc Hội số HR 753 được ký kết thành luật uỷ quyền cho Tổng thống Mỹ để công bố ngày 15 tháng Mười hàng năm là “Ngày An Toàn của Cây Gậy Trắng”. Nghị quyết qui định:“Theo quyết định của Thượng viện và Hạ viện, mỗi năm Tổng Thống được trao quyền để công bố ngày 15 tháng Mười là Ngày An Toàn của Cây Gậy Trắng, và kêu gọi dân chúng Mỹ cử hành ngày này bằng những nghi lễ và hoạt động phù hợp.”
Vài tiếng đồng hồ sau khi quốc hội thông qua nghị quyết này, Tổng Thống Lyndon B. Johnson được ghi danh trong sử sách là người đầu tiên công bố ngày 15 tháng Mười là Ngày An Toàn của Cây Gậy Trắng. Lời công bố của Tổng thống nhấn mạnh ý nghĩa của việc sử dụng cây gậy trắng vừa là một công cụ vừa là một biểu tượng. Trong bài công bố đầu tiên về Cây Gậy Trắng, tổng thống Johnson đã ca ngợi người khiếm thị về tinh thần tự chủ và lòng quyết tâm ngày càng sống tự lập và xứng đáng với nhân phẩm. Ông nói: “Cây gậy trắng trong xã hội chúng ta đã trở thành một trong những biểu tượng nói lên khả năng tự đi lại của người khiếm thị. Việc sử dụng cây gậy làm tăng phong thái nhã nhặn cũng như cơ hội cho người khiếm thị di chuyển trên các đường phố của chúng ta.”
Trong hầu hết các năm kể từ năm 1964, các Tổng thống đã công bố ngày 15 tháng Mười là Ngày An Toàn của Cây Gậy Trắng.
Ngày 15 tháng Mười năm 2000, Tổng thống Bill Clinton một lần nữa nhắc nhớ chúng ta về lịch sử của cây gậy trắng như một công cụ và như một biểu tượng của sự khiếm thị: “Được huấn luyện thích đáng, những người sử dụng cây gậy trắng có thể đi lại thoải mái và an toàn hơn nhờ dò biết được vị trí của lề đường, các bậc, các vỉa hè không bằng phẳng, và những chướng ngại khác trên đường đi. Cây gậy trắng đã mang lại cho họ sự tự tin để tự mình đi tới trường, tới nơi làm việc và tham gia đầy đủ hơn vào các sinh hoạt của cộng đồng. Nó nhắc cho chúng ta nhớ rằng rào cản duy nhất đối với người khuyết tật chính là thái độ và thói quen kỳ thị mà xã hội chúng ta rất hay đặt trên đường đời của họ. Khi cử hành Ngày An Toàn của Cây Gậy Trắng, 2001, chúng ta hãy ôn lại lịch sử của cây gậy trắng, nét nổi bật của nó như một công cụ và một biểu tượng xuyên suốt lịch sử; một cây gậy của sự tự chủ. Chúng ta cũng hãy hồi tưởng những sự kiện đã cho phép chúng ta mừng ngày 15 tháng Mười là Ngày An Toàn của Cây Gậy Trắng.”

(Mái Ấm Thiên Ân / Dịch từ "History of White Cane Safety Day" của Philip Strong)
Website Hội Người Mù Hoa Kỳ - AMERICAN COUNCIL OF THE BLIND/ www.acb.org


Human Planet (BBC)
(Click vào hình xem lớn)

What a car ? What a driver



Click vào hình xem lớn

ÐỜI LÀ THẾ !
Dù là "Believe" thì ở giữa vẫn có "lie "
Dù là "Trust" thì vẫn luôn phải có "us"
Dù là "Friend" thì đến cuối vẫn là "end"
Dù là "Lover" thì sau cùng cũng "over"
Dù đã có "Wife" thì trong lòng vẫn có "if"
THAT’S LIFE !

Khéo léo sáng tạo
Ed Bing Lee và những món ăn đẹp mắt bằng len
Ed Bing Lee studied painting & graphic design at the University of New York in Brooklyn, NY. From there he moved to Philadelphia where he worked at a fabric mill as a fabric designer & learned how to weave. 20 years or so later Lee left his job at the mill and decided to continue to work with thread, but without the fancy machinery. Lee states in American Style Magazine, “Knotting is something you can do without any kind of equipment. All you need is imagination and dexterity”. The artist went on to create several bodies of work which employed his knotting technique. The Chawan series is his largest to date.
Lee has taught fabric design & color/design at Moore College of Art, Philadelphia College of Art, & at the Art Institute of Philadelphia. He has exhibited his work throughout the country and in 2007 he received the Pew Fellowship for Crafts, amongst many other awards.

Ông Lee sinh năm 1933, sống tại San Francisco/Hoa Kỳ, học vẽ và đồ hoạ thời trang tại New York, từng làm việc trong ngành chế biến len vải tại Philadelphia, cho hay ông đã bỏ ra nhiều năm dài để phát hoạ ra các kiểu đan móc, khéo léo tạo nên hình thù các món ăn bắt mắt bằng những sợi len nhiều màu. Nhiều người cảm thấy thật thú vị và bất ngờ khi tác giả của những món ăn len là một người đàn ông. Theo Thriftyfun, ông Lee có tình yêu đặc biệt với những cuộn len. "Khi nhìn thấy những cuộn len màu là tôi lại nghĩ ngay xem nó có thể kết hợp với những màu gì khác để tạo ra các món ăn. Tôi có thể dành cả ngày ở nhà để làm ra các tác phẩm len", ông Lee chia sẻ. Mời các bạn ngắm những món ăn đẹp mắt do ông Lee tự tay tạo ra, ảnh trên Thriftyfun:

Nghe chị Duõn hát Karaoke tiếng Phúc Kiến ...




.







"Mộng-Giác" là khi mê tỉnh, vọng tưởng và giác ngộ hiện về ...


Hữu như phù vân ...
Quán được cái chết thì sẽ không già và bất tử

Viết thử tiếng Việt có dấu ...
Đạo
Không - Mô Phật
Nhàn hạ
Vô thường
Khang ninh
Khánh phát
Tâm
Thiền
Vấn tịnh