Vài hình ảnh gợi nhớ dáng đứng Bến Tre -
- mãnh đất một thời đã không tử tế lắm đối với chúng ta!
(cám ơn hình ảnh ghi lại trong http://www.xehoivietnam.net)

Con phà Rạch Miễu xưa đã trôi vào dĩ vãng ...

... khi nhịp cầu nối hai bờ Tiền Giang tụm lại


Bến Tre với Cồn Thới hình thành

thì cái văn hoá Đạo Dừa chỉ còn mơ hồ trong kí ức ...

... bằng con đò sang thăm Cồn Phụng


Đặt chân lên mãnh đất thành đồng ...
Qua Balai từng bị giật mìn phá hoại ...

... đến mọi nẽo đường huyện xã quê hương


Cái Đình làng thị xã còn đó
Ngôi chùa lớn còn đây ...

Cổng trước/sau Chợ nhà Lồng ...

Chợ búa, giáo đường Tin Lành và Thánh thất
Mặt hồ xưa đã lót đá xi măng, hoa viên, cỏ xén, lối phẳng và cây trồng ...

Và một góc riêng kỉ niệm "Đại Đồng"

... với nếp thang, đường mía, kẹo dừa


Sân Vận động và rạp hát Lạc Thành

cùng mé Sông, cầu Cái Cối, Nguyễn Đình Chiểu, ngã Ba Tháp, hồ Chung Thuỷ ...


Cứ tất cả 15 giây thì có một người thiệt mạng vì AIDS ...
Nhân Ngày Thế giới Chống AIDS 2009 hàng năm (1 tháng 12) được dự tính quảng bá lên màn ảnh TV, một VideoClip mở màn cho chiến dịch chống dịch bệnh Liệt kháng AIDS (SIDA) của tổ chức Regenbogen e.V tại Đức đang là đề tài gây tranh cãi.
Hình ảnh pha làm tình như trong phim sex truyền thống của một cặp quay kín đáo và nghệ thuật đã được phổ biến. Phải đến cuối phim, người xem mới nhận ra: người đàn ông trần truồng trong phim là Adolf Hitler, lãnh tụ Quốc xã Đức, với đoạn kết thúc phim có dòng chữ “AIDS là kẻ giết người hàng loạt” (AIDS is a mass murderer/ AIDS ist ein Massenmörder).

Clip phim ngắn bằng tiếng Anh, Đức và Tây Ban Nha, có thể xem được trên cột Campaign, trang nhà: www.aids-is-a-mass-murderer.com.

Nhóm thực hiện quảng cáo của Regenbogen e.V giải thích rằng, họ quyết định sử dụng một clip gây tác động mạnh, bởi vì tại Đức, vấn đề quan tâm đến dịch bệnh AIDS đã có mòi sụt giảm. “Theo thống kê của các tổ chức quốc tế, đến nay đã có khoảng 28 triệu người trên thế giới chết vì bệnh AIDS, mỗi ngày có thêm 5 ngàn ca tử vong tiếp theo. Cho nên, chúng tôi viết rằng, AIDS là kẻ giết người hàng loạt lớn nhất trong lịch sử”!
Thế nhưng tại sao lại chọn đích thị Hitler? – Nhà báo hỏi.
- Bởi vì ở Đức không có khuôn mặt nào đặc thù hơn Hitler trong việc biểu hiện cái Ác – Hans Weishäupl, sếp của Das Comitee, hãng thiết kế clip, nói.
Các nhà chính trị hiện chưa đưa ra bình luận nào. Nhưng cộng đồng mạng thì đã có những phản ứng. Họ cho rằng cách quảng cáo gây phản cảm và vượt quá giới hạn thuần phong mỹ tục.
Một số tổ chức xã hội ở Hoa Kỳ và Anh đã lên tiếng phản đối. Phát ngôn viên của tổ chức Anh quốc National AIDS Trust nói với báo “Daily Telegraph” rằng, quảng cáo này sỉ nhục những người bị lây nhiễm”.
Tổ chức Deutsche AIDS-Hilfe (DAH) trong bản tuyên bố của mình cho rằng, đây là chiến dịch tồi tệ nhất kể từ khi bùng nổ dịch bệnh AIDS. “Chúng tôi phê phán phim quảng cáo với tất cả thận trọng và kêu gọi các phương tiện truyền thông và các nhà làm phim không tham dự vào chiến dịch này. Chúng tôi cũng kêu gọi các nhà chính trị hãy giữ khoảng cách với nó” – Carsten Schatz, thành viên của Hội đồng quản trị tổ chức DAH, nói. Ông cũng cho hay sẽ xem xét khả năng chống lại chiến dịch quảng cáo bằng con đường pháp luật.
Trung tâm Thông Tin Y tế của CH Liên bang Đức cho rằng, chiến dịch quảng cáo này qủa thật “khó tiêu hóa và sẽ chịu những hậu quả ngược lại với ý tưởng mình muốn”.
Tuy nhiên sếp của chiến dịch, ông Jan Schwertner, nói rằng, ý tưởng của Regenbogen là đưa ra hình ảnh mới của virus HIV chứ không nhắm vào những nhân vật mang tính tranh cãi. Và ông cho biết sẽ không rút lui khỏi kế hoạch.

Có con mèo, đố bà con tìm cách bắt được (Click vô hình)!



Rise of the Maschines ...

Phim cũ mà hay ...
Về một nhà Sư và Đệ tử - một Đứa trẻ và Học trò, của đạo diễn Nam Hàn Kim Ki-duk (2003). (http://www.imdb.com/title/tt0374546/)
Người kể: Một cuốn phim Ðại Hàn ra mắt khán giả Paris, được khen ngợi. Báo Mỹ cũng khen. Tên phim là : Xuân Hạ Thu Ðông ... rồi Xuân (nguyên gốc: Bom yeoreum gaeul gyeoul geurigo bom. Anh ngữ: Spring, Summer, Fall, Winter ... and Spring). Không phải là người sành điện ảnh, đọc tên phim là tôi muốn đi xem ngay vì nên thơ quá. Xuân hạ thu đông thì chẳng có gì lạ, nhưng xuân hạ thu đông ... rồi xuân thì cái duyên đã phát tiết ra ngoài. Huống hồ, ở trong phim, xuân rồi lại xuân trên một ngôi chùa nhỏ ... trên một ngôi chùa nhỏ chênh vênh giữa núi non.
Thơ và đẹp là chuyện của phim. Bằng im lặng, cảnh nói thay người, vì người chẳng có gì để nói. Chẳng có gì để nói giữa ông thầy và chú tiểu. Chẳng có gì để nói giữa chú tiểu và cô gái. Giữa ba nhân vật là một chiếc thuyền, có khi có người chèo, có khi không có người chèo vẫn trôi, trôi từ bờ bên này qua bờ bên kia, từ thế giới bên ngoài không hiện diện qua thế giới ngôi chùa không ai cần nói với ai. Chiếc thuyền là nét động duy nhất giữa tĩnh lặng mênh mông, là vùng vẫy giữa lắng đọng. Nói gì ? Có gì để nói ? Nói gì giữa chú tiểu và cô gái ? Chuyện xảy ra là chuyện tất nhiên, bình thường như xuân hạ thu đông, bốn mùa trôi qua trên mái chùa.
Mới hôm qua, mùa xuân, chú tiểu hãy còn là búp măng, con ai đem bỏ chùa này, ngây thơ đùa nghịch với cóc nhái, rắn rít. Hôm nay, khi cô gái đến, tuổi đời của chú đã bắt đầu vào hạ. Ðất trời ấm mùa hạ, cô gái ấm mùa hạ, chú cũng vậy. Chuyện gì xảy ra tất phải xảy ra, chú tiểu hay ai cũng vậy thôi, đất đá cũng biết, nói gì, có gì để nói, bình thường như xuân hạ thu đông, bốn mùa trôi qua.
Cô gái đến chùa để ở lại chữa bệnh. Khi đến, cô u sầu. Dưới mặt trời mùa hạ, trời ấm, người ấm, cô rạng rỡ. Ông sư nói: “Cô lành bệnh rồi đấy, về nhà được rồi”. Ông biết hết, nhưng thản nhiên, như không, có gì để nói? Cô gái xuống thuyền, thuyền đưa cô từ bờ bên này của núi non qua bờ bên kia của một thế giới chẳng ai biết. Ðó là thế giới chú tiểu sắp bước vào, bởi vì, sau khi cô gái đi, chú tiểu cũng khăn gói rời chùa, làm con bướm đuổi theo mùi hương. Trong khăn gói, chú cẩn thận nhét thêm tượng Phật. Nằm trong gói, chắc tượng Phật nói thầm : “chú tiểu ơi, chẳng sao đâu, chú đi như thế cũng tốt như ở, bình thường thôi, xuân hạ thu đông”.
Chùa hai người, bây giờ chỉ còn một. Một ông sư già và một con mèo con. Mặt trời dịu lại, mùa hạ cũng ra đi. Mùa thu dần đến, núi non vàng rực một màu.
Nhưng chẳng mấy chốc, chú tiểu trở về. Chú về với râu, với tóc, với tướng mạo hiên ngang của thanh niên đô thị. Và với con dao ! Con dao mà chú đã thọc vào cổ của người yêu bây giờ là người phản. Chú vào chùa, giận dữ bốc cháy người chú. Trong tay chú, con dao như muốn thọc vào cả núi non. Thản nhiên như không, ông sư càng già càng ít nói. Chỉ nói : “ Chú khổ thì người khác cũng khổ ”. Nghe chừng như chuyện khổ cũng tất nhiên, nói gì, có gì để nói, chỉ là xuân hạ thu đông.
Cũng tất nhiên, cảnh sát đến chùa bắt kẻ sát nhân. Cảnh sát có súng. Sát nhân có dao. Dao ấy hươi lên trước súng. Máu sẽ đổ chăng ? Ðổ trên sân chùa ? Ðổ trên lưng ông già đang lom khom nắn nót viết chữ trên sân ? Ðâu có ! Không rời bút, cũng chẳng nhìn lên, ông bảo chàng thanh niên buông dao. Dao buông xuống thì dao hết là dao. Dao hết là dao thì súng cũng hết là súng, cảnh sát hết cảnh sát, thanh niên hết râu tóc. Chỉ còn chữ viết trên sân. Với con dao đã buông, ông bảo chú thanh niên tiếp tục khắc chữ trên nền sân, khắc theo chữ ông viết. Chú khắc suốt ngày và suốt đêm. Khắc rách da tay, khắc kiệt sức. Khắc : sắc bất dị không, không bất dị sắc, sắc tức thị không, không tức thị sắc, thọ tưởng hành thức diệc phục như thị... Bài kinh Bát nhã.
Sáng hôm sau, cảnh sát dẫn chú lên thuyền qua bên kia bờ. Mọi chuyện xảy ra như chẳng có gì để nói, chẳng có gì để nói nhiều, tất nhiên như thế. Trừ bài Bát nhã. .
Mùa thu trôi qua, tuyết mùa đông phủ trắng núi non. Một mùa tuyết, hai mùa tuyết, chẳng biết bao nhiêu mùa tuyết trôi qua, chỉ biết ông sư già đã tịch. Giữa băng giá phủ kín mặt hồ, bỗng một hôm, giữa mùa tuyết như thế, một người đàn ông đứng tuổi hiện ra, đi từ bờ bên kia qua bờ bên này của ngôi chùa bỏ hoang. Cũng một người ấy thôi, mãn giấc bướm, mãn tù, mãn cuộc đời, quay về chùa cũ. Cũng một người ấy thôi, nhưng không phải người ấy nữa. Người ấy bây giờ là sư.
Có sư, chùa sống lại. Tượng được đặt trên bàn thờ, bế lên núi, ngự trên chóp đỉnh, tạc cả vào băng. Giữa băng giá, sư mình trần leo núi, thách đố với trời đất, thách đố với cả chính mình. Sư thắng. Sư đã từ giã bờ bên kia. Sẽ không còn ai biết sư là ai nữa, kể cả con thuyền khi hết băng giá sẽ nối lại hai bờ, kể cả chính sư. Nhưng từ giã cuộc đời bên kia đâu có phải là diệt nó. Trái lại, phải sống với nó. Mà cuộc đời ở bên kia cũng chẳng để cho sư quên sư đâu. Nó nhắc nhở hành trình của sư ở chính cái chỗ bắt đầu : ở tiếng khóc khi bắt đầu sự sống.
Cho nên, giữa giá băng như thế, một buổi sáng, chùa chưa mở cửa, bỗng vang dội tiếng khóc sơ sinh trước sân. Một thiếu phụ, chẳng biết ai, dấu nước mắt, đem con lên bỏ chùa này, giao cho chùa giọt máu chắc hẳn là kết quả của một hạnh phúc không bền hơn sương tan đầu cỏ. Tiếng khóc! Trẻ thơ! Câu chuyện của chính ông sư, có lẽ của cả mọi người, sẽ lặng lẽ diễn ra hàng ngày trước mắt ông. Câu chuyện đó, ông đã quá biết rồi, cho nên có gì xảy ra chắc ông đều sẽ thản nhiên, chẳng nói một lời, nói gì, có gì để nói, bình thường như xuân hạ thu đông trôi qua trên mái chùa của ông.
Đấy, băng giá tan rồi, mùa đông đã trôi qua, một mùa đông, hai mùa đông ...Rồi mùa xuân ! Trẻ sơ sinh đã thành chú tiểu nhỏ, ngây thơ đùa nghịch với cóc nhái, rắn rít đang bò ra khỏi hang. Chỉ chừng mươi mùa xuân nữa thôi là chú tiểu sẽ vào tuổi hạ. Coi chừng, chú sắp rút dao. Sắp khắc trên nền gạch :“có chẳng khác không, không chẳng khác có...” Nói gì nữa, có gì để nói ? ...

Một phim cũ, còn hay hơn nữa ...
dựa bộ truyện "Ghost Story" kinh dị của tác giả Lafcadio Hearn (nhà báo người Mỹ gốc Hy Lạp). Đạo diễn Nhật ông Masaki Kobayashi đã quay thành tập phim mang tựa đề "Kwaidan" (1964, giải nhất Filmfestival Cannes 1965 và được chọn là phim nước ngoài hay nhất dự Oskar 1966). Đoạn dưới đây là một trong số 4 câu chuyện (Episode) tách biệt, dựa huyền thoại trận thuỷ chiến Genpei, 1180-1185 trong lịch sử Nhật Bản, mang tựa "Hoichi the Earless": Hoichi là chú tiểu mù, sống trong tu viện, hát rất hay, được triều đình triệu vào cung biểu diễn thiên anh hùng ca về những trận chiến chết chóc của họ. Như bị những bóng ma bao phủ quanh, chú tiểu đã được người thầy bảo vệ bằng cách viết câu thần chú để ông vô hình trước các bóng ma. Nhưng vị thầy đã quên một điều ...
Ðáng lẽ người kể chuyện chấm dứt ở đây. Nhưng xem phim mới lại nhớ phim cũ. Nhớ quá, không cắt hai phim ra được, cho nên phải thêm. Cũng tại bài kinh Bát nhã, năng trừ nhất thiết khổ chân thật bất hư. Dứt trừ hết khổ ách, chân thật không hư. Tại sao bài kinh Bát nhã có công năng như vậy ? Tại vì kinh nhắc chữ có cho ai mê muội về không, nhắc chữ không cho ai mê muội về có. Cứ thử mê muội rồi thấm Bát nhã.
“Xuân Hạ Thu Ðông ... rồi Xuân” được sáng tác giữa thời đại mà dục tính phơi tràn trên màn ảnh. Ái dục là đề tài của phim, vấn nạn của nhân vật. Tôi không biết đạo diễn có lấy hứng từ phim cũ không, nhưng tôi liên tưởng đến một phim nổi tiếng của Nhật, Quái Ðàm (Kwaidan) (2), chiếu cách đây trên 35 năm, rút từ một chuyện thiền, chẳng có gì giống phim mới ngày nay, trừ bài Bát nhã. Chuyện như sau, tôi kể theo trí nhớ.

Một chú tiểu mù sống trong một ngôi chùa vắng với một ông sư già. Chú chơi đàn tỳ bà rất hay, tiếng đàn ai oán, ai nghe cũng rơi lụy.
Một buổi tối mùa hè đầy sao, chú tiểu đang ngồi trước sân tư lự với sao trên trời, bỗng nghe bước chân lạ của ai đến bên cạnh. Tiếng áo giáp khua. Rồi giọng một võ sĩ : “Chú đừng sợ. Nữ chúa của ta nghe danh cây tỳ bà của chú nên bí mật tới đây cùng với cả triều đình của ngài để mời chú đến đàn cho nghe khúc nhạc kể lại trận thủy chiến ngày xưa xảy ra trong vùng này. Ta đưa chú đi”.
Chú tiểu ngần ngại quá, sợ kẻ lạ, sợ đêm khuya, thầy quở, nhưng võ sĩ nắm tay chú kéo đi. Chú được dẫn đến trước một cung điện nguy nga, tráng lệ . Cả một triều đình bá quan văn võ, quý tộc, công nương, lễ phục oai vệ, uy nghiêm, ngồi lặng yên chờ chú. Trên ngai, chủ trì một nữ chúa, trang phục cực kỳ lộng lẫy. Chú tiểu so dây, lựa khúc, gảy bản đàn nổi tiếng, rồi cất tiếng ca não nùng kể lại trận đánh. Cả triều đình thương cảm, rơi lệ.
Gần sáng, võ sĩ đưa chú về lại chùa, hẹn tối mai sẽ trở lại, sẽ đàn, sẽ yến tiệc, sẽ trả công, sẽ gả người đẹp cho chú, nhưng cấm chú tuyệt đối không được hé miệng kể cho ai nghe chuyện này.
Tối hôm sau. Lại tiếng khua của áo giáp. Lại võ sĩ đến tìm. Lại triều đình oai vệ. Lại đàn hát, nỉ non, ai oán. Trận thủy chiến hiện ra qua bài hát, giáo mác, lửa đạn, thây người, máu chảy, cả triều đình thất trận nhảy xuống sông, nữ chúa gieo mình xuống nước, tự vẫn ...
Ðêm hôm đó, đêm hôm sau, đêm sau nữa, cứ đến đêm là ông sư già để ý thấy chú tiểu ôm đàn ra khỏi chùa, đến gần sáng mới về. Ông thầy lo quá, thấy chú tiểu tái xanh, ngớ ngẩn, xa vắng; Chẳng lẽ chú tới nhà gái ? “Này, tiểu, nhỏ nào hớp hồn chú vậy?” Chú tiểu lắc đầu, câm miệng, khiến thầy càng nghi. Tối đó, sư cho người theo dò, nhưng lạ quá, tiểu đi như lướt trên đất, chẳng đường sá gì cả, vừa mới theo bóng chú đã lạc đâu rồi, mất hút. Quay về lối cũ, bỗng nghe thoảng ra, từ nghĩa trang gần chùa, tiếng tỳ bà. Vào nghĩa địa thì chú đấy, đang ngồi đàn một mình trước mộ hoang của phe thất trận thủy chiến ngày xưa. Mưa đẫm ướt áo, chú vẫn đàn say mê . Gọi, chú chẳng nghe. Lay, chú vẫn ngồi. Vẫn đàn, như không biết gì khác. Phải lôi chú, kéo chú về chùa.
Thế này thì tiểu bị ma bắt rồi - sư nói. Thất trận mấy trăm năm, oan hồn vẫn chưa tan. Vẫn triều đình, vẫn bá quan văn võ, vẫn nghi vệ oai phong, vẫn lộng lẫy nữ chúa. Vẫn thủy chiến. Dưới trời sao. Trước nấm đất hoang. Ông sư mài mực, chấm bút, bảo chú tiểu cởi hết áo quần, viết trên toàn thân kín mít chữ, từ chỏm đầu đến mút chân. Chú tiểu bây giờ chỉ còn là bài kinh biết đi, sắc bất dị không, không bất dị sắc ... Sư nói : “tối nay nó lại đến tìm chú nữa đấy ; cứ tĩnh tọa chú Bát nhã”.
Tối, võ sĩ lại đến, nhưng chẳng thấy chú tiểu đâu cả, chỉ thấy cây tỳ bà vẫn gác nơi vách. Nhìn quanh cây đàn, trống không, chẳng bóng ai, nhưng ô kìa, sao lại có hai cái tai vễnh lên trước mắt, đúng là tai của chú tiểu. Võ sĩ kéo tai ; chú tiểu nhịn đau, chú Bát nhã. Không làm được gì hơn, võ sĩ rút gươm, cắt tai, mang đi. Sư phụ ơi, sư phụ ơi, người đã tuyệt vời năng trừ nhất thiết khổ, chân thật bất hư kín mít toàn thân, từ chỏm đầu đến mút chân, chỉ quên khuấy yết đế trên hai tai !
Không mắt, không tai, vô nhãn nhĩ tỷ thiệt thân ý, chú tiểu bây giờ chỉ còn là cây đàn, tai mắt chú là cây tỳ bà, cây tỳ bà là tai mắt chú, người và đàn là một. Trong chuyện thiền mà cuốn phim lấy hứng, chú tiểu trở thành danh cầm bậc nhất thiên hạ.

Kết luận người kể: Hai phim, hai chuyện chẳng giống gì nhau, chỉ cùng mượn hứng từ bài Bát nhã. Sự đời ! Trăm vạn chuyện khác nhau đến mấy, rốt cuộc rồi cũng một chữ ấy mà thôi, không ngộ thì mê, không mê thì ngộ, nói gì, có gì nữa để nói ?
(Cao Huy Thuần, nhà văn, nghiên cứu, giảng sư đại học tại Pháp)

Vài hình vui đông-tây mùa Trung Thu ...



IAA 2009, một vòng Hybrid tại Đức và nhiều vòng Auto-Girls bên Shanghai!
Giới thiệu: - Cửa Chùa sáng một chữ Tâm
Ngôi chùa nghèo mang tên Từ Huệ trên miền đất hạ lưu sông Cửu Long
... thuộc vùng sâu vùng xa, kín đáo nằm cạnh cây cầu Balai mới, xã Tam Phước/Châu Thành, tỉnh Bến Tre, toàn những địa danh xa lạ đối với 30 năm xa xứ?
Mà gần, bởi trong đó đã có những bàn tay hảo tâm của các Bạn từng sửa laị mái tôn xập xệ, gián tiếp giúp cho trên 30 mái đầu mồ côi ba giá lổm chổm, 60 suất tương chao mỗi ngày, cả một niềm trăn trở và tâm huyết của các ni cô đang lo liệu.
Gọi theo ngôn ngữ đời thường thì đây là một ngôi chùa nghèo, đúng cái nghĩa đen là nghèo rớt mồng tơi, chắp vá vẫn xiêu vẹo, xây trước thì hụt sau, không thể ban phát lợi lộc vật chất cho khách thăm chùa, nhưng nhờ vậy mà thâm tình với mười phương bốn hướng!

Xin mời các bạn có dịp về ghé ngang như hình ảnh chụp bên dưới của bạn Trúc Phương.
Mọi công đức đóng góp đều quý báo vô vàn - Các em nhỏ bất hạnh rất cần được tiếp tay nuôi nấng.
Mọi đóng góp vật chất, sách vở học cụ xin quí vị hảo tâm gửi về: Chùa Từ Huệ, 168A ấp 3, xã Tam Phước, huyện Châu Thành, Bến Tre. Tel. (+84) 75-612039
hoặc liên lạc về cô Tuyết Mai: 3. Đường số 34, Q.6, TP Hồ Chí Minh, Vietnam, Phone: (+84) 908 466 770. eMail: luutuyetmaithanh@yahoo.com.vn

Hình ảnh bổ túc (xem lớn tại đây ...)
Nghĩa cử đẹp!
Chỉ với gạo, mì gói, nước tương, đường và bút viết tập vở, chúng ta mỗi người một bàn tay nhỏ làm được nhiều việc cho thế hệ sau ... Xin cám ơn bổ túc một ân nhân khác là TO UYEN (trong hình mới nhận) đã dành nhiều thì giờ lo lắng cho công việc ...
C/o: Lưu Tuyết Mai, 3. Đường số 34, Q.6, TP Hồ Chí Minh, Vietnam, Phone: (+84) 908 466 770
eMail: luutuyetmaithanh@yahoo.com.vn
"Chê" nợ Hoa Kỳ?
Washington vẫn phát hành trái phiếu và Bắc Kinh vẫn mua gom. Thế nhưng khi USD suy yếu và bất đồng thương mại tăng, Trung Quốc có thể giảm mua nợ Mỹ.
Bất chấp phàn nàn từ phía quan chức kinh tế hàng đầu TQ về việc chính phủ HK chi tiêu vô số tiền bạc cứu nền kinh tế thoát suy thoái, số liệu mới nhất từ Bộ Tài chính Mỹ cho thấy TQ vẫn tiếp tục mua trái phiếu chính phủ Mỹ trong mùa hè vừa qua. Đến tháng 9/2008, TQ đã vượt qua Nhật trở thành nước nắm giữ trái phiếu bộ Tài chính Mỹ nhiều nhất thế giới.
Trong khoảng thời gian 1 năm qua, lượng nắm giữ trái phiếu Bộ Tài chính Mỹ của Trung Quốc tăng 45%.
Đây là tin tốt nhưng cũng là tin xấu ... (Mời các bạn xem tiếp ... )

Cuộc chiến thương mại Trung Quốc - Hoa Kỳ ngày một căng thẳng
Bất đồng xung quanh vấn đề thuế lốp xe của TQ và HK có thể khởi đầu cho việc làn sóng bảo hộ thương mại dâng cao trên toàn cầu.

Quan hệ giữa TQ-HK phức tạp nhất thế giới. Dù hai nền kinh tế này rất cần đến nhau, Trung Quốc cần xuất hàng sang Mỹ để duy trì tăng trưởng còn Mỹ cần tiền đầu tư của Trung Quốc để có tiền cứu cấp kinh tế, hai nước vẫn thường xung đột với nhau về nhiều vấn đề.
Washington cáo buộc Bắc Kinh thao túng đồng nội tệ một cách thiếu công bằng để kích thích xuất khẩu, TQ mới đây công khai kêu gọi thay đổi USD trong vai trò đồng tiền dự trữ của thế giới! Bất chấp tất cả bất đồng trên, hai nước vẫn dàn xếp êm đẹp những mâu thuẫn ...
(Mời các bạn xem tiếp ... )

Von: Lili Tran <lilipostal@yahoo.com>

Von: Lili Tran <lilipostal@yahoo.com>
Sống theo lối Nhật và ...
nghệ thuật vẽ tranh cát của Kseniya Simonova, người Ukrainian
(She uses a giant light box, dramatic music, imagination and "sand painting" skills to interpret Germany's invasion and occupation of Ukraine during WWII).
Von: Lili Tran <lilipostal@yahoo.com>
(Click hình xem lớn ở dạng SlideShow .pps)

Người Sài Gòn và Hồ Chí Minh City!
Một bé lớp 5 đi học về không được vui. Mẹ thấy thế hỏi bé bị cô la rầy hay bạn bè trêu chọc gì không? Bé trả lời :- Con nộp bài bị trả lại. Cô bắt làm lại. Nếu không, sẽ bị zêrô (không điểm)!.
- Thế con viết gì nào hở bé con của mẹ? - Thì con viết thế này này
Bà mẹ cầm tờ giấy đọc :
Chiều nay, bầu trời Sài Gòn đang nắng bỗng mây đen từ đâu kéo tới rồi mưa như trút nước xuống Sài Gòn. Người Sài Gòn hối hả tìm chổ trú mưa dưới những mái hiên nhà dọc hai bên đường ....

Bà Mẹ: - Có gì sai hở con? - Ngay cả mẹ không biết sai gì ư?
- Sai gì nào? -Thì đấy ... Cô bảo con phải thay tất cả các từ Sài Gòn (của bọn Nguỵ) là Hồ Chí Minh (của Cách mạng). - Ô, Mẹ tưởng gì. Chỉ đơn giản vậy thôi à. Thì con cứ sửa lại cho đúng.
Đứa bé mặt mày tiu nghỉu ngồi viết bài lại ...

Sáng hôm sau, bé hớn hở, hân hoan chạy vào lớp. Khoe cô giáo bài viết đã được sửa. Cô giáo cầm đọc. Càng đọc, sắc mặt cô càng tím tái ...
Chiều nay, bầu trời Hồ Chí Minh đang nắng bỗng mây đen từ đâu kéo tới rồi mưa như trút nước xuống Hồ Chí Minh. Người Hồ Chí Minh hối hả tìm chổ trú mưa dưới những mái hiên nhà dọc hai bên đường ...
Chẳng bao lâu sau, Hồ Chí Minh bị ngập nước. Bộ mặt Hồ Chí Minh bây giờ trông thật thảm hại. Nước càng lúc càng nhiều, dâng cao, kéo theo nào là rác rưởi phủ đầy ngỏ ngách Hồ Chí Minh. Du khách nhìn Hồ Chí Minh ngao ngán, lắc đầu!
Em ngồi nhìn Hồ Chí Minh mưa mà thấy chán phèo. Vì cơn mưa có lẽ kéo dài đến tối. Không phải như mọi người thường nói "Sau cơn mưa trời lại sáng", với Hồ Chí Minh, sau cơn mưa thường cúp điện. Cho nên Hồ Chí Minh tối thui tối thủi. Và vậy là sẽ không được đi dạo chơi sở thú Hồ Chi Minh đêm nay, đêm cuối tuần.
Tội nghiệp du khách đến chơi Hồ Chí Minh vào mùa mưa thì coi như bó chân không đi đâu được. Nhưng người ta vẫn đến vì tò mò, vì trong Hồ Chí Minh có đủ 7 món ăn chơi của 3 miền gộp lại.

Em không thích Hồ Chí Minh lắm nhưng em phải sống với Hồ Chí Minh vì mẹ em đã sống với Hồ Chí Minh mấy mươi năm trời. Mẹ bảo không thể bỏ đi vì Hồ Chí Minh là nơi chôn nhau cắt rún gì gì đó của mẹ.
Chiều nay, Hồ Chí Minh mưa to, em vẫn ngồi nhìn Hồ Chí Minh chẳng biết chơi trò gì ngoài hy vọng Hồ Chí Minh đừng mưa tan nát nữa.
(txvinh st)

Ngòi bút can đảm làm chấn động hàng tỉ người Trung Hoa ...

Hội chợ sách 2009 quốc tế tại Frankfurt (Buchmesse từ 14-18 tháng 10) là một trong các cuộc triển lãm thường niên, hội tụ tác phẩm mới và các tên tuổi văn sĩ lớn trên văn đàn thế giới. Năm nay, tiêu đề được danh dự chọn giới thiệu sẽ là nền văn hoá văn học Trung Quốc (TQ). Ban tổ chức cho hay đã có trên 7 ngàn gian hàng ghi tên tham dự, giới thiệu tất cả 2.900 cuộc hội thảo và bình phẩm về sách.
Một sự kiện bất ngờ tuy nhiên đã xảy ra trong lúc chuẩn bị. Ông Jürgen Boos, giám đốc Hội chợ đã (vô ý?) cho mời một nữ học giả Trung Hoa là bà Dai Qing đến trình bày nhận xét về văn hoá TQ trong cuộc hội thảo Symposium tổ chức tại học viện Frankfurter Cervantes-Institut (hôm 12-13 tháng 9 qua) với đề tài "TQ và Thế giới - Tri giác và Hiện thực” (“China und die Welt - Wahrnehmung und Wirklichkeit").

Bà Dai Qing (戴晴 68 tuổi) không xa lạ mà còn là một phụ nữ nổi tiếng tại TQ với nghề nghiệp phóng viên bảo vệ môi trường, có phụ thân là Fu Daqing, một trí thức cộng sản chống phát xít Nhật tử trận năm 1944 lúc bà được 3 tuổi. Bà được đại tướng Lục quân TQ là Ye Jianying nhận làm con nuôi. Ye Jianying có lúc từng giữ chức chủ tịch nhà nước CS TQ (từ 1978-1983). Bà Dai Qing viết nhiều tác phẩm, đặc biệt là sách cảnh báo về nguy cơ phá hoại môi sinh từ các dự án xây đập chận nước tại dòng Dương Tử giang gây ra (quyền “Yangtze! Yangtze!”) . Hồi mùa xuân 1989, bình luận trong tờ thời báo Guangming, bà được giới sinh viên khen ngợi là phụ nữ anh hùng, can đảm vì các bài viết bênh vực cuộc biểu tình ôn hoà của giới sinh viên TQ trước biến cố bị thảm sát tại Thiên An Môn. Sau đó bà bị bắt (4/6/1989) đi tù 10 tháng. Ra khỏi nhà giam, bà Dai Qing công khai rời bỏ đảng tịch đảng cộng sản TQ và sống bằng việc viết sách. Năm 1992, bà đã nhận được giải thưởng Tự Do của Hội Văn Bút quốc tế P.E.N (viết tắt từ poets/Dichter, playwrights/Dramatiker, essayists/Essayisten và novelists/Romanciers).
Sự tham dự bất ngờ của bà tại Frankfurt (cùng một nhà văn khác là ông Bei Ling đến từ Boston/ HK, chủ nhiệm tạo chí chính trị “Qing Xiang” và là sáng lập viên Hội Văn bút Trung Hoa Tự do) đã gây khó chịu cho phái bộ TQ hiện diện tham dự, đứng đầu là Zhang Fuhai, một quan chức Bộ báo chí và Xuất bản TQ. Viên chức này đã cho ông Peter Ripken, trưởng ban tổ chức buổi Symposium biết rằng: sự hiện diện của Dai Qing và Bei Ling là lý do có thể làm cho TQ rút khỏi buổi hội thảo, và ban tổ chức Hội chợ chỉ được phép mời quan khách theo tiêu chuẩn chọn lựa phía TQ đưa ra, nếu không Bắc Kinh cũng rút lui ra khỏi Hội chợ sách! Ripken đã từ tốn khẩn cầu hai tác giả này nên nhân nhượng để tránh sự việc đổ vỡ và thay vào đó họ sẽ được nói chuyện ngay tại kì Hội chợ sách vào trung tuần tháng 10.
Sự việc trở nên gay go khi bà Dai Qing qua sự giúp đỡ của Hội Văn Bút Đức, một thân một mình đáp xuống phi trường Frankfurt hôm 11/9, một ngày trước buổi hội thảo. Thế là PEN quốc tế đã có dịp phê phán giới chức tổ chức Hội chợ sách 2009 gắt gao khi cho rằng cánh tay lông lá của nhà nước CS Bắc Kinh đang nối dài tận Đức! PEN gây áp lực để sau cùng bà Dai Qing được phát biểu tại học viện như đúng chương trình.
Giới truyền thông tại Đức cũng chỉ trích cách hành xử thô bạo phản dân chủ của các viên chức TQ. Bằng từ “Những khách lạ” họ đã dùng gọi phái bộ Zhang Fuhai, ngụ ý mỉa mai đại diện Bắc Kinh đã không hiểu các giá trị của tự do dân chủ bên ngoài lãnh thổ TQ!

Căng thẳng trong buổi hội thảo Symposium càng gia tăng khi nữ Đô trưởng thành phố Frankfurt (trung tâm tài chánh Đức và Khối EU), bà Petra Roth (đảng CDU đương quyền) thẳng thừng trong diễn từ chào mừng quan khách, đòi hỏi phải có sự tôn trọng nền tảng cho việc bảo vệ tự do ngôn luận tại Hội chợ sách -mà theo bà- “Khách nào cũng như nhau không ai được dùng quyền lực từ bên ngoài áp đặt, chúng ta không sợ trước những lời đe doạ”. Bà Roth còn trịnh trọng giới thiệu 2 nhà văn đối kháng TQ bằng tên gọi thật rõ ràng và sau đó bà cũng cố ý 2x lần nhắc đến cuộc tiếp đón đức Dalai Lama vừa qua tại thành phố Frankfurt.
Tiếp theo, ông Jürgen Boos và tổng thư ký Hội Văn Bút Đức, Herbert Wiesner đã mời bà Dai Qing und ông Bei Ling lên phát biểu ý kiến. Phái bộ Zhang Fuhai đã ngậm miệng và về sau không còn đủ kiên nhẫn được nữa phải đứng lên rời khỏi thính phòng.
Như một quả bom nổ chậm, vụ xì-căn-đan tai tiếng đã được báo chí quốc tế loan đi nhanh chóng làm bẽ mặt các sứ giả TQ (Một người phụ nữ can đảm đã đánh gục hàng tỉ người TQ!). Báo giới Đức đã châm biếm thái độ trịch thượng của Zhang Fuhai, đồng thời cũng phê bình ban tổ chức Hội chợ quá mau miệng mời Bắc Kinh trụ trì làm tiêu đề chính tại đây. TQ theo phân tích bị xem như chưa đủ trưởng thành để hoà nhập vào thế giới tôn trọng quyền tự do ngôn luận tại Hội chợ sách. Ông Herbert Wiesner cho rằng phái bộ Zhang Fuhai chống đối sai lầm và không có tinh thần hợp tác.
Nơi đây người dân Âu Châu lại có dịp nhớ đến cách hành xử ngông cuồng của Bắc Kinh lúc rước đuốc Thế Vận Olymia 2008 xuyên lục địa Âu Châu với những vệ sĩ công an chuyên nghiệp rào quanh bó đuốc và gây ra bạo động đối với những người biểu tình chống đối từ phía Tibet hải ngoại.
Tưởng chuyện đùa vui nhưng là chuyện có thật vì cả chế độ TQ đang sợ một người phụ nữ có dáng người nhỏ bé là bà Dai Qing. Ngoài một vị thầy tu duy nhất khác là Đức Dalai Lama!

Nhà nhà, bà bà, các cô ... nên sắm một cái HUBSTER làm bạn !
"HUBSTER" là tên một chế phẩm điện tử đa năng độc đáo của ông Tây, đã tung ra toàn nước Pháp, thuộc độc quyền thương mại của hãng SFR thầu cung cấp đường tải và dịch vụ Internet, Mobilfon, xài điện nhà, nặng 290 Gr, có ổ nhớ.

Hubster có khung màn ảnh nhỏ sờ tay, gắn sẵn loa, làm đồng hồ báo thức, lịch tường, hàn thử biểu, xem được SlideShow chạy hình. Gắn thêm dây nhợ hoặc WiFi thì vô luôn Internet, nghe Radio, xem Tivi, dự báo thời tiết, tử vi, tin thị trường cổ phiếu, nhạc trữ tình Mp3, WMA, gắn thêm microphone thì nó nhắc tuồng ghi vào bộ nhớ lúc nào có thể tắt bếp, uống beer, hẹn Chat với bồ, chê cơm đi ăn phở, v.v... Đa năng là vậy!
Và nó nhỏ gọn, để trong bếp, trên bàn ăn, trong cầu tiêu, giá cũng phải chăng, không đắt: 129 EUR (có thể mang theo tới tui, xài ké với dịch vụ Internet của Daidong.org cũng được).
Tò mò thì ghé đây coi: http://www.sfr.fr/utiliser-mobile-box/hubster/caracteristiques-techniques/ hoặc trang chủ của SFR là: http://www.sfr.fr/
(txvinh)

Hi-Tech / Điện thoại di động dạng đồng hồ đeo tay ...
...
là các kiểu mới toanh của tụi LG (LG GD910) và HYUNDAI (Watch Phone W-100) chế tạo tại Nam Hàn. Cả hai mỏng, nhẹ, độc đáo, có Radio FM, nhạc Mp3, chiếu Video, sạt điện qua USB, bán kèm đồ nghe tai dạng bluetooth, có bộ nhớ lớn, chụp được vô số hình, làm kiếng đánh phấn thoa son cũng được!
Giới thiệu với bà con làm quà tặng cho ThaiTran (nó khoái Hi-Tech lắm!), giá bán đã hạ. Tại Hoa Kỳ 1250 USD, bên đây có 1 nghìn EUR!
Tìm thấy thi thể sinh viên gốc Việt mất tích tại đại học Yale ...
Cảnh sát Connecticut hôm 14/9 qua cho biết họ đã tìm thấy thi thể nạn nhân được cho là nữ sinh viên gốc Việt bị mất tích ngay trước đám cưới ở bên trong một tòa nhà là khu thí nghiệm của trường Đại học Yale/ HK. Trợ lý cảnh sát trưởng New Haven, ông Peter Reichard, cho biết các quan chức cho rằng thi thể họ tìm được chính là của sinh viên Annie Le, đang theo học tiến sỹ tại trường Đại học Yale, mặc dù họ chưa tiến hành xét nghiệm nhận dạng.
Hàng trăm cảnh sát và nhà chức trách đã tham gia vào cuộc tìm kiếm Le, bị mất tích từ hôm thứ ba tuần trước.
Le là con của một cặp vợ chồng người Việt di cư sang Mỹ, năm nay 24 tuổi. Cô đã dự định tổ chức đám cưới vào hôm chủ nhật 13/9 tại Syosset, New York, trên bờ biển phía bắc của Long Island. Lần cuối cùng người ta nhìn thấy Le ở trong tòa nhà này là vào sáng thứ 3. Camera theo dõi cho thấy cô đến vào khoảng 10h sáng. Cảnh sát đã gặp rất nhiều khó khăn khi điều tra vụ việc bởi không có đoạn video nào cho thấy Le đã rời tòa nhà. Thẻ căn cước, tiền, thẻ tín dụng và ví của Le vẫn ở trong văn phòng của cô.



Đọc người Việt viết về người Hoa
NGƯỜI HOA Ở VIỆT NAM

Người Trung Hoa qua lại làm ăn, sinh sống với người Việt đã lâu đời, từ đời nhà Tần (Tang 221-206 trước Công Nguyên) và tùy theo hoàn cảnh lịch sử nhiều đợt đã di cư sang Việt Nam như: Trung Hoa xảy ra thay đổi các triều đại, tranh chấp chính trị bất đồng chính kiến. Triều đại nhà Minh kéo dài từ (Ming 1368-1644) bị sụp đổ, nhà Thanh lên cầm quyền từ (1644-1912) Những người dưới triều đại nhà Minh di cư sang Việt Nam bằng thuyền đến (xứ Đàng trong) kinh đô Phú Xuân. Họ sống tập trung với nhau thành một làng nên gọi là làng người Minh Hương.

Năm 1679 Kỷ Mùi, các quan lại nhà Minh là Dương Ngạn Địch là cựu tổng binh trấn thủ Long Môn (Quảng Tây) và,Trần Thượng Xuyên là cựu tổng binh các châu Cao, châu Lôi và châu Liêm (Quảng Đông) đem 3.000 quân và 50 chiến thuyền đến Thuận Hoá xin tị nạn. Chúa Hiền Vương viết thư yêu cầu Chân Lạp chia đất cho họ, đồng thời cử người hướng dẫn họ qua Chân Lạp. Trần Thượng Xuyên vào cửa Cần Giờ, lên định cư ở Ban Lân (Biên Hoà, Đồng Nai) còn Dương Ngạn Địch vào cửa Tiểu cửa Đại đến định cư ở Mỹ Tho..

Người Hoa sống lâu đời ở Việt Nam, không thích người Việt gọi họ là người Tàu, danh từ Tàu ở đây là vì thời xưa người Trung Hoa di cư sang Việt Nam bằng tàu thuyền, cũng giống như chúng ta vượt biên gọi là Thuyền nhân/ Boat people. Trong văn chương Việt Nam thường dùng các từ ngữ như: chùa Tàu, trường Tàu, chữ Tàu, mực Tàu, chợ Tàu, phố Tàu, Đồ Tàu, hàng Tàu. Theo nhà văn Phan Khôi đã lý luận thịt kho Tàu chứ không ai gọi thịt kho Trung quốc hay thói quen uống trà Tàu chứ không ai gọi uống trà Trung quốc. Theo tôi tên gọi là người Hoa hay người Tàu cũng giống nhau không có gì xấu cả. Ba bốn thế kỷ người Hoa đã sống trên đất Việt, được tự do bảo tồn văn hóa có bản sắc riêng, Các tỉnh miền Trung có nhiều người Hoa đến lập nghiệp từ các tỉnh Quảng Đông, Phước Kiến/Phúc Châu, người Tiều/Triều Châu), Triết Giang.. nhưng phần lớn đến từ Hải Nam /Hẹ. Lý do gần Việt Nam vào mùa gió thuận, họ chỉ cần cho thuyền ra khơi xuôi về hướng nam rất nhanh có thể đến Đà Nẵng, Hội An. Trước 1975 ở miền Nam đều có trường Tàu dạy theo hệ thống giáo dục của Đài Loan, Đà Nẵng có trường trung, tiểu học Thọ Nhơn, Hội An có trường trung tiểu học Lễ Nghiã, những ngôi chùa Tàu độ sộ.. Người Hoa sống hoà hợp với người Việt không có vấn đề kỳ thị. Nhìn chung ở đâu có cộng đồng người Hoa ở đó có Chùa tàu, Hội Quán có trường học, cơ sở thương mãi.

Năm 1698 vùng Phiên Trấn- Bến Nghé- Sài Gòn lúc bấy giờ có làng Minh Hương ở Gia Thạnh, chợ Lớn, đến thế kỷ thứ 19 chính quyền Pháp tạo điều kiện cho người Hoa vào định cư ở Sài Gòn Chợ Lớn, Thời gian nầy Pháp tuyển mộ người Hoa sang Việt Nam theo các đợt mộ phu cho đồn điền. Biến cố năm 1949 Tưởng Giới Thạch(Chiang Kai-Shek) thua Mao chạy ra đảo Đài Loan(Taiwan), thêm một số người Hoa chạy sang Việt Nam. Họ vẫn tự hào với nguồn gốc Trung Hoa, nhưng là Trung Hoa Dân Quốc của chế độ Cộng Hòa Tự Do, với lá cờ quốc gia là "Thanh Thiên, Bạch Nhật, mãn địa Hồng, góc bên trái màu xanh da tời, ở giữa có hình mặt trời, nền đỏ):", với quốc ca ca ngợi Tự Do, Tam Dân Chủ Nghĩa của quốc phụ Tôn Dật Tiên và TT Trưởng Giới Thạch“ (cũng như trong lòng người Việt Hải Ngoạivới lá cờ vàng và quốc ca Nầy Công Dân ơi... mãi mãi tồn tại trong lòng người dân Việt) Trước 1975 hơn 2,3 triệu người Hoa ở miền Nam

Tục ngữ có câu “Nhập gia tùy tục“, người Hoa vẫn giữa phong tục riêng của họ, nhưng từ năm 1956, dưới thời Đệ Nhất VNCH cố TT Ngô Đình Diệm ra luật tất cả Hoa kiều phải nhập quốc tịch Việt Nam. Ở miền Nam phần lớn Hoa kiều giữ các vị trí kinh tế quan trọng: sản xuất, phân phối… không tránh được nạn đầu cơ tích trữ. Đến cuối năm 1974, họ kiểm soát hơn 80% các cơ sở sản xuất của các ngành công nghiệp thực phẩm, dệt may, hóa chất, luyện kim, điện...và gần như độc quyền thương mại: 100% bán buôn, hơn 50% bán lẻ, và 90% xuất nhập cảng.

Từ 30/4/1975 chấm dứt chiến tranh, thống nhất Nam Bắc, chế độ CSVN thuộc phe thân Nga -Tàu. Người Hoa ở Việt Nam bỗng dưng có phong trào treo cờ Trung cộng. Thời gian đó chúng tôi bị tập trung cãi tạo, nhưng theo tài liệu thì từ tháng 1 năm 1976 kiểm tra dân số theo chính sách „hộ khẩu“ (mỗi gia đình có bao nhiêu miệng?) Đa số người Hoa ở Chợ Lớn ghi trên giấy tờ „đăng ký“ quốc tịch Trung Quốc mặc dù họ đã chuyển sang quốc tịch Việt Nam từ những năm 1956-1957.

Tháng 2 năm đó, người Hoa được lệnh „đăng ký“ lại theo quốc tịch đã nhận thời Việt Nam Cộng Hòa. Nhưng họ vẫn khai là quốc tịch Trung Quốc, có thể người Hoa nghĩ rằng lấy lại quốc tịch Trung Hoa sẽ được bảo vệ vì Hoa kiều sẽ được Bắc kinh che chở? Nhưng dưới chế độ cộng sản đều giống nhau, thời đó đánh tư sản, quốc doanh các cơ sở tư nhân như các nhà máy, các trường Đại học, tài sản của các tôn giáo lớn …Nói chung hoàn cảnh đổi đời chung cuả người dân tại miền Nam, không riêng gì người Hoa đều bị kiểm kê tài sản theo chính sách cải tạo công thương nghiệp, đổi tiền vv…..

Tất cả các báo tư nhân cả tiếng Hoa đều bị đóng cửa, tờ báo của chính quyền phát hành thời bấy giờ là Sài Gòn Giải Phóng! Tiếp theo là các trường học của người Hoa cũng bị quốc doanh. Năm 1977, Hoa kiều vẫn tiếp tục kiểm soát nền kinh tế miền Nam, và nạn đầu cơ lương thực. Người Hoa ở Chợ Lớn tổ chức biểu tình đòi giữ quốc tịch Trung Quốc. Theo luật Việt Nam, ngoại kiều không lấy quốc tịch Việt Nam bị trục xuất, không riêng gì người Hoa, cả người Ấn cũng phải rời Việt Nam. Trong các tháng 3, 4 năm 1978, khoảng 30.000 doanh nghiệp lớn ở Sài Gon bị quốc hữu hóa, nhà nước tịch thu và kiểm soát. Về kinh tế, phân phối lương thực chỉ có „đảng lo cho dân“ với chủ trương phân phối thực phẩm, chủ trương nắm bao tử để cai trị. Thời kinh tế tự do, trù phú tại miền Nam không còn nửa! mà phải bước vào giai đoạn vô cùng khó khăn của cảnh ngăn sông, cách chợ. Ngày nay người ta gọi thời kỳ đó là thời „bao cấp“……….

Nhiều người bất mãn rời bỏ Việt Nam, trở thành phong trào vượt biên, chính quyền lợi dụng cơ hội nầy, cho người Hoa „đăng ký“ đi chính thức bằng tàu. Từ năm 1979-1980, những người được phép „vượt biên“ Hoa kiều chiếm số lượng rất lớn, người Việt muốn đi theo diện nầy phải đổi tên họ người Tàu! Khoảng 250.000 Hoa kiều trở về bằng đường bộ qua biên giới phía Bắc từ tháng 4 năm 1978 đến mùa hè năm 1979 số phận những người nầy „tránh vỏ dưa gặp vỏ dừa“. Chỉ những người ra đi bằng ghe, tàu đến tị nạn các nước trên thế giới tự do thì cuộc sống tự do và sung túc. Tuy nhiên số người Hoa ở lại Việt Nam còn khá đông, buôn bán làm ăn bình đẳng, hiện nay có nhiều Hoa kiều không cần chiếu khán nhập cảnh, được phép từ lục điạ, cũng như Đài Loan sang đầu tư, buôn bán lập gia đình để được ở lại Việt Nam. Hàng nhái, hàng giả từ, các chất độc hoá học từ Trung Cộng được tung vào thị trường làm trở ngại sự phát triển kinh tế, ảnh hưởng đến sức khoẻ gây ra bệnh ung thư của người dân Việt Nam, đây cũng là chính sách chủ trường của Trung Cộng? lấn đất, lấn biển, giống như tằm ăn dâu. Phá kinh tế, phim ảnh đầu độc giới trẻ. Họ tìm cách cho người di dân sang Việt Nam, bởi vì cùng là đảng cộng sản với nhau một màu cờ đỏ! người Tàu sang Việt Nam không cần chiếu khán, làn sóng đàn ông sang Việt Nam tìm vợ..

Dân số Trung Hoa lục địa hơn 1 tỷ 3, thiếu chỗ ở và lương thực, chính quyền Trung cộng không muốn đón những người rời bỏ quê hương trở lại. Hơn 50 triệu người Hoa tha phương cầu thực nước ngoài, thử hỏi có bao nhiêu phần trăm muốn trở về hương bên lục điạ? Người Hoa ở nước ngoài bị chính quyền lợi dụng là „khúc ruột ngàn dặm“ để hưởng lợi về kinh tế, làm gián điệp, ăn cắp các tài liệu khoa học kỹ thuật của các nước tây Phương gởi về cho cố quốc. Một khoa học gia người Mỹ gốc Hoa đã được mua chuộc hay bắt cóc? về nước chế ra bom nguyên tử! trước đây người Hoa chưa đủ khả năng. Trong những thập niên qua Trung cộng đã cho hàng trăm ngàn sinh vien du học nước ngoài học, các ngành kỷ thuật. Chính quyền Trung cộng chưa bao giờ bỏ mộng bá quyền tại Đông Nam Á châu.

Những người Việt gốc Hoa lớn tuổi dành dụm tiền trở lại cố hương như „lá rụng về cội“ về lại Trung cộng. Họ đã chứng kiến đời sống bên đó „trọng nam khinh nữ“, sinh con gái bị bỏ chết ngoài lề đuờng, người qua lại dửng dưng nhìn như xác con mèo con chuột chết (tuần báo Stern ở Đức đã đăng đủ hình ảnh về vấn đề trên). Trong tương lai không tránh khỏi cái nạn trai thừa gái thiếu! phải nhập cảng đàn bà, hay dùng quân đội tiếp tục xâm chiếm các nước láng giềng?

Du khách đến Bắc Kinh, Thượng Hải giống như cỡi ngựa xem hoa, nếu tiếp xúc đời sống lâu ngày sẽ khám phá ra nhiều điều mới lạ của thế kỷ 21. Muốn mua sách triết của Khổng Tử, hay Lão Tử rất khó, nhưng tuyển tập của Mao bán khắp nơi. Đi đâu cũng thấy hình, tượng của MaoTse Tung (1883-1976) thờ Mao trong lăng chưa đủ? những ngôi chùa lớn có tượng Mao đứng trước sân, hay ngồi trong chánh điện ngang hàng với Phật Thích Ca (sinh năm 563 trước CN)? việc nầy không thể chấp nhận được, phải có sự phận biệt giữa thiện, ác, độc tài và tự do…Nhìn lại các cuộc cách mạng như: trăm hoa đua nở năm 1957 “a hundred flowers blossom“ và cuộc cách mạng văn hoá 1965 “the Cultural Revolution“ do Mao chủ trương đã giết chết hơn 30 triệu người vô tội! Đời sống đạo đức lộn xộn xô bồ. Thức ăn gia vị có nhiều chất độc hóa học, ăn không chết ngay nhưng sẽ gây nên bệnh ung thư. Tục ngữ có câu “Ăn cơm Tàu ở nhà Tây“ bây giờ người Việt cần phải xét lại, bên Tàu con trùn, con bọ cạp họ ăn xài láng.. nhà nông thiếu trâu, bò thì dùng sức người thay trâu! (Đời sống ở Đài Loan, giàu có sung túc khác xa đời sống người dân ở lục điạ, và vừa qua Quốc Dân Đảng đã thắng lớn để lên cầm quyền)

Thế giới đã phát hiện đồ chơi trẻ em xuất cảng, có chất độc hóa học gây cho trẻ em thiệt mạng bị thu hồi và cấm bán hàng trăm loại, những loại hàng nầy bị tồn kho bên Tàu muốn tiêu thụ cho hết thế nào cũng bán sang Việt Nam? vậy ngưòi dân bên quê nhà đừng ham hàng rẻ mua cho trẻ em chơi, ảnh hưởng về lâu về dài cho sự phát triển về trí tuệ của trẻ em hay gây nên tử vong! Bên Tàu còn buôn bán „tam can ngũ tạng“. Những người bị kết án tử hình rất đắt giá, được nuôi đầy đủ, khi ra pháp trường xử bắn, xác được đưa vào bệnh viện để mổ lấy các phần trong cơ thể bán cho người nước ngoài như: thận, tim, gan…Mỗi phần với giá hàng chục ngàn dollar trở lên. Bởi vậy chúng ta không ngạc nhiên, ngày nay ở Trung cộng còn án tử hình rất nhiều, có thể vì lý do trên? Nhà văn học giả Bá Dương đã viết sự thật về cuộc sống của người Hoa, được nhà văn Nguyễn Hồi Thủ dịch tựa đề „Người Trung Quốc Xấu Xi“. (1)

Tâm tình của một người Việt gốc Hoa lớn tuổi trở về thăm Trung quốc họ cảm thấy cô đơn, giống như truyện Từ Thức về trần, dù họ là người Hoa cùng một ngôn ngữ văn hóa họ hàng, nhưng không thể hội nhập vì người Hoa bản xứ phải lo miếng cơm, manh áo của Xã Hội Chủ Nghiã. Người đó đã nói „không có nơi nào đẹp bằng quê hương nơi mình sinh ra, đó là miền nam Việt Nam trước 1975 là một Thiên đàng….

Cuối năm 2007 ở Sài Gòn và Hà Nội đã có một số thanh niên, sinh viên, tự phát biểu tình trước các Đại sứ quán hay Lãnh sự quán Trung quốc, để phản đối việc xâm chiếm đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam thành tỉnh Tam Sa của Hải Nam, phong trào nầy bị chính quyền VN ra lệnh công an đủ loại trấn áp, bắt nhiều người tham dự biểu tình…các cơ quan ngôn luận không được phép phổ biến tin tức sự thật về trình trạng các quần đảo bị Trung Cộng xâm chiếm. Bao nhiêu quần đảo Trường của Việt Nam? Vùng biển Hoàng Sa đã bị chiếm từ 1974 còn lại Trường Sa rộng 180.000 km2 lớn gấp 10 lần Hoàng Sa, nhưng chỉ có 9 tiểu đảo. 3 đảo: Trường Sa (Spratley), Nam Yết (Namyit) và Sinh Tồn (Sincowe) thuộc về Việt Nam trấn giữ, và thêm 3 cồn (cay) là An Bang (Amboyna), Song Tử Tây (SouthWest) và Sơn Ca (Sand), cùng 7 đá nổi, 9 đá chìm và bãi ngầm, tổng cộng 22 đơn vị. Việt nam phảo quản lý một vùng biển Đông rộng lớn, ngư dân Việt Nam đánh cá từ trước đến nay nhiều đời, an toàn, nhưng thời gian qua đã nhiều lần bị tàu Trung Cộng bắn, bị bắt phải chuộc tiền để được tự do, ban đêm có tàu lạ? „Tàu ô“ tới húc chìm tàu đánh cá Việt Nam, Hải quân Việt Nam đâu không bảo vệ cho ngư dân? Khắp nơi trên thế giới nơi nào có người Việt tị nạn cộng sản, đều tổ chức biểu tình lớn chống lại chủ trương xâm lăng của Trung cộng, tố cáo hành động nầy trước công luận thế giới. Người Việt chống chủ trương bành trướng của Trung cộng chứ không chống người Hoa ở Việt Nam. Tôi có hỏi một số người Việt gốc Hoa
- Họ đều đồng ý là việc làm chánh đáng, biểu tình để nói lên lòng yêu nước, hổ trợ thế hệ trẻ bên Việt Nam ý thức trách nhiệm với Tổ quốc. Ngày xưa cựu quan nhà Minh là Mạc Cửu (1655-1735) đến lập nghiệp ở miền nam Chân Lạp khai thác vùng hoang vu thành lập nên thị trấn Hà Tiên. Năm 1708 Mạc Cửu xin thần phục Chúa Nguyễn Phúc Chu trị vì xứ Đàng trong từ (1691-1725), Mạc Cửu làm tổng binh giữ đất Hà Tiên phát triển kinh tế, càng ngày mở rộng vùng lãnh thổ thêm thịnh vượng. Chống đỡ những cuộc tấn công xâm lấn của Xiêm La và bảo vệ hữu hiệu biên giới cho tới ngày nay. Người sinh ra trưởng thành trên đất Việt Nam, không phân biệt chủng tộc tôn giáo, phải có nhiệm vụ bảo vệ lãnh thổ và lãnh hải, chính quyền nào phản bội dâng đất cho ngoại bang là mang trọng tội với dân tộc. Người Hoa ở đảo Đài Loan cũng là cùng nguồn gốc từ Trung Hoa, nhưng luôn bảo vệ phần đất Đài Loan tự do là một quốc gia độc lập, không thể sáp nhập vào Trung Hoa lục địa theo chủ nghiã cộng sản độc tài. Người Hoa ở Việt Nam cũng có bổn phận của một công dân Việt Nam ...
(Nguyễn Quý Đại/ http://www.viet.no/content/view/1903/87/)

Mạng lưới Kinh tế của Người Hoa Hải Ngoại ...
Vị Cha Già của Trung Hoa Dân Quốc là bác sĩ Tôn Dật Tiên đã lật đổ được triều đại Mãn Thanh vào năm 1911 do ngân quỹ đóng góp từ các cộng đồng của người Hoa hải ngoại. Giống như người Do Thái tại châu Âu, người Trung Hoa đã làm ăn buôn bán phát đạt tại châu Á. Họ đã có mặt tại Đông Nam Á hơn 500 năm về trước và phần lớn họ xuất phát từ hai tỉnh phía nam của Trung Hoa là Quảng Đông và Phúc Kiến.
1/ Lý do người Trung Hoa di cư ra hải ngoại
2/ Cộng đồng Người Hoa tại Đông Nam Á.
3/ Khả năng đầu tư vào Lục Địa
4/ Các đặc tính của cộng đồng Hoa kiều
(Mời các bạn xem tiếp ... )

Ông chủ người Hoa
(
theo Phạm Khiêm - BBCvietnamese.com/Bangkok)
Các đợt vượt biên giai đoạn sau 1975 đã đưa nhiều chục ngàn người Việt gốc Hoa phân tán khắp nơi trên thế giới. Thế chế thay đổi tại miền Nam, và chính sách "cải tạo công thương" sau đó, đã làm nhiều người lo sợ. Họ tìm cách thoát khỏi Việt Nam.Một số người ra đi mang theo vàng và nữ trang. Nhưng quả là khó giấu khi gặp cướp biển. Phần lớn người Hoa ra đi với hai bàn tay trắng.

Tại các nước người Hoa được nhận vào định cư như Mỹ, Úc, Canada,... nhiều người gầy dựng cơ nghiệp từ con số không. Dù tài sản không có, tiền bạc không nhiều, tiếng Anh không biết, nhưng với sự cần cù, bền bỉ, lập hội giúp nhau, và quản lý theo kiểu gia đình, người Hoa lại thành công một lần nữa, nơi đất khách quê người. Giống như trước đây họ từng có trong tay nhiều cơ sở kinh doanh quan trọng tại miền Nam Việt Nam.
Bài viết này phân tích mô hình kinh doanh của người Hoa và các yếu tố giúp họ thành công, kể từ sau năm 1979, khi các hạt giống "người Việt gốc Hoa" được "reo rắc" khắp năm châu.

Cần cù
Trần Dũ Hùng là một doanh nhân người Việt gốc Hoa ở Sydney. Anh bắt đầu buôn bán từ lúc 10 tuổi. Ban đầu chỉ là phụ giúp bà nội với tiệm tạp hóa. Khi sang Úc anh đi giao thuốc lá. Sau đó mở sạp bán hàng tại chợ cuối tuần.Và một năm sau mở tiệm tạp hóa, mỹ phẩm tại một trung tâm buôn bán của người Việt. Theo anh, khi kinh doanh người Hoa thường bắt đầu từ một vài món hàng rất nhỏ, sau đó mới mở rộng ra. Và đặc tính đầu tiên của họ là cần cù, tận tụy với công việc: “Cái chánh là họ cần cù, ít tiêu xài. Ít khi ganh đua về ăn chơi". Những ông chủ người Hoa khác sẽ xem anh làm việc có uy tín và có cần cù không. Nếu không, họ sẽ không giúp vốn cho anh để mở rộng kinh doanh.”
Mạc Hưng Chiêu là giám đốc công ty kinh doanh nội thất A Plus Furniture tại Tân Tây Lan. Cũng là người Hoa vượt biên, và ông bắt đầu ‘vào nghề’ bằng công việc tài xế giao hàng. Bốn năm sau ông mở tiệm. Ông thừa nhận đa số chủ người Hoa có có hai đức tính: cần cù và giữ uy tín. Ông gọi đó là lý do khiến họ dễ thành công.
Cần cù, giữ uy tín là đức tính của nhiều chủ shop người Hoa
“Bà nội tôi ở bên Mỹ hiện đang có trong tay một khu shopping lớn, và gầy dựng nó bằng nghề bán bánh bò. Ban đầu bà bưng từng khay bánh bò đi bán. Cần cù dành dụm năm này qua năm khác, để về sau bán những thứ khác lớn hơn.” Ông Chiêu thừa nhận đó là cái tính hay. “Các sắc dân khác ít khi họ làm như vậy, họ chờ để đủ vốn liếng mới bắt đầu sự nghiệp.”
Chữ tín
Còn bà Thái Phụng Long chủ cửa hàng bán đồ gia dụng StarBeauty ở Sydney nói đến sự hỗ trợ nhau trong giới thương gia người Hoa, dành cho những người mới mở tiệm. Và chữ tín trong kinh doanh:
“Khi kinh doanh người Hoa trọng chữ tín. Khi ai đó mở shop, thường những người Hoa kinh doanh ở shop lớn hơn chở hàng lại cho anh, không cần anh phải năn nỉ gì hết. Họ mang hàng đến cho anh bán,”
“Khi anh bán xong, anh mới trả tiền.” Bà Phụng Long giải thích một số người Việt kinh doanh khó thành công vì khi mở cửa tiệm, muốn mua hàng hóa của người khác, thường phải trả tiền trước rồi mới được giao hàng, vốn liếng ban đầu đã khá nặng, cho nên khó thành công.
Các tiệm của người Hoa, dù mới mở, hay đã hoạt động, thường mua hàng của nhau. Qua đó họ có thể hỗ trợ nhau về giá, tín dụng, và nguồn hàng. Và cùng hợp sức nhau để tồn tại, khi thịnh cũng như trong cơn suy.
Mặc dù ai cũng nói đến chữ tín trong kinh doanh, theo ông Dũ Hùng, chủ tiệm tạp hóa tại Bankstown, đây là điểm khác biệt rất lớn giữa người Hoa và người Việt
“Người Hoa họ trọng chữ tín, khi họ hứa bán cho anh với giá, chẳng hạn 5 đồng một ký, ngày mai cái hàng đó lên 6 đồng, họ vẫn bán cho anh 5 đồng,” “Người Việt ít khi hành xử như vậy”.
Người Hoa có lối giúp đỡ nhau riêng khi mở shop, để dựa vào nhau
“Lý do người Hoa thành công là khi họ buôn bán ế ẩm, người cung cấp hàng không đòi tiền liền của anh. Họ để đó và đôi khi còn giúp vốn cho anh để sống qua giai đoạn khó khăn. Lỡ mà anh lỗ hẳn, họ bỏ luôn. Đó là cái rất là hay. Họ không phân biệt người Quảng, người Tiều, hay Phúc kiến.”
Bang hội
Là cộng đồng di dân, khai xứ, mở mang bờ cõi, tính cách hội phường của người Hoa rất lớn. Và từ đó mọi người bắt đầu để ý đến vai trò của ông hội trưởng, hay ông bang.
Trong nhiều hoạt động kinh doanh của người Hoa người ta thấy xuất hiện hình bóng của ông bang này. Muốn được làm bang trưởng, theo bác sĩ Liêu Vĩnh Bình, chủ tịch Hội Thương gia Á Úc thần long, vị này phải tự bỏ tiền túi ra, để chứng minh khả năng cống hiến của mình.
“Trong cộng đồng người Hoa nếu anh muốn lên làm ông bang trưởng, hay hội trưởng, điều đầu tiên anh phải ‘cống nạp’ cho hội, đối với người Hoa là bằng tiền mặt,”
“Thời giá bây giờ là khoảng 30 ngàn đô la Úc mỗi một năm. Không phải mua quan bán chức gì, nhưng đó là cái để anh hết lòng đối với hội, anh thật tình mang tâm huyết và tiền bạc để giúp cho hội vững mạnh.”
Chuyện hội trưởng bỏ tiền túi ra giúp hội, theo ông Bình, rất khác với người Việt.
“Đối với người Việt khi làm hội trưởng họ hay nghĩ cống hiến của mình có được đền bù, được trả lương hay không. Một số người chỉ muốn đóng góp bằng thời gian thôi, coi đó là đủ rồi, không bỏ tiền ra làm chi.”
Ông Bình nói sinh hoạt chính của người Hoa tập trung ở bang hội. Ví dụ như Hội Tiều châu, hội Quảng đông, tập hợp mang tính chất vùng miền, hay địa phương.
“Nhiều bang hội không có nội quy, hay điều luật gì hết. Ví dụ đối với Hội Tiều châu, người không có tiền cũng được gia nhập hội, không nhất thiết phải là người của địa phương đó. Họ không có nội quy chặt chẽ như cộng đồng Việt Nam.” . “Nhưng họ có sự đoàn kết trong tinh thần khá chặt chẽ. Ví dụ Hội Tiều châu, hai năm trước tổ chức cuộc họp hàng năm ở Singaporre. Tốn phí lên tới nhiều triệu đô la, và chúng được nhiều Hội Tiều châu trên thế giới hỗ trợ. Họ giúp những người không đủ điều kiện, không có tiền đến tham dự.”
Theo bác sĩ Bình, cuộc gặp như vậy không phải là để mua bán giới thiệu sản phẩm. Chủ yếu là gặp gỡ và ăn chơi, nhưng tình cờ nếu có gì mua bán được, họ vẫn làm.

Gia đình
Ra nước ngoài, và cho đến bây giờ nhiều Việt gốc Hoa vẫn chọn kinh doanh là nghề để sống. Trong lĩnh vực bán lẻ, hay mở cửa tiệm bán tạp hóa, không ai có thể ‘đọ’ với người Hoa. Điều này được khẳng định tại các nước có đông người Hoa lập nghiệp sau năm 1975, như Mỹ, Canada, Pháp và Úc.
Khi kinh doanh người Hoa thường bắt đàu từ những thứ nhỏ và từ đó vươn lên
Bà Long Thái Phụng, chủ tiệm đồ gia dụng StarBeauty ở Sydney, nhắc đến sự đoàn kết trong gia đình như là yếu tố quan trọng khiến người Hoa thành công. “Quan trọng nhất là họ cần cù. Họ làm với tính cách gia đình. Có nhiều tiệm tôi thấy cha, ông nội, hay người lớn tuổi trong gia đình, đứng ra kiểm soát hết mọi thứ.”
“Tiền bạc của những người con làm được đều gom về một nơi. Và từ đó người cha sẽ phân phối theo nhu cầu của từng đứa con. Chứ không phải con cả, hay con đầu thì được nhiều,”
“Tiền bạc của gia đình thường do người cha, hay người trưởng, quản lý. Khi một người con nào mở shop họ thảy hết vốn liếng vô trong đó. Khi ấy đồng vốn của họ giống như cái vốn cộng hưởng, nó rất mạnh, do vậy khi kinh doanh họ thường thành công.”
Một điểm nữa, theo ông Mạc Hưng Chiêu, chủ shop nội thất ở Tân Tây Lan, giúp tạo ra sự thành công của người Hoa trong kinh doanh là thái độ cần mẫn sớm ngày.
“Họ rất cần cù. Họ không nghĩ đến làm việc làm tám hay chín tiếng một ngày. Họ làm mười tiếng, mười một tiếng mà không than vãn,”
“Những người con trong gia đình đều phải tham gia vào công việc kinh doanh của gia đình, bất kể tuổi tác,”
Việt – Hoa khác biệt
Nhiều người Hoa vượt biên và định cư ở nước thứ ba cùng thời với người Việt. Không nản khó khăn, chẳng nề hà vốn liếng, nhiều người lao vào buôn bán và khá thành công. Bác sĩ Liêu Vĩnh Bình là người có nhiều năm quan sát cách kinh doanh của hai cộng đồng Việt và Hoa, nhận xét.
“Trong kinh doanh, so sánh giữa người Việt và người Hoa, người Hoa bao giờ cũng thành công hơn”, “Vì họ có đầy đủ tính chất của người làm thương mại. Đó là cần cù, tiết kiệm, không phải hơi thành công một tý là đã đi khoe toáng lên”. “Nhiều người Hoa trước đây ở Việt Nam tôi thấy, có thể đang mặc cái áo rách nhưng họ có triệu triệu bạc trong tay,”
“Họ có thể đóng góp cho bang hội của họ cả triệu bạc nhưng mà họ vẫn mặc áo rách để buôn bán. Đó là những cái rất là hay. Họ không đi chơi tối, không vô quán xá để đốt tiền.”

(BBC/http://www.bbc.co.uk/vietnamese/indepth/story/2009/02/090216_nguoihoa_kinhdoanh.shtml)

" Muốn phụng sự nhưng buộc phải ra đi "

Là người Việt gốc Hoa, và vừa hoàn tất văn bằng Y khoa Sài Gòn năm 1978, bác sĩ Liêu Vĩnh Bình nghĩ rằng ông là người Việt. Với kiến thức về y tế, ông luôn muốn giúp người dân bằng mọi cách có thể.
Ngày 30/4/1975 dù có vé di tản sang đảo Guam, ông quyết định ở lại.
“Mình quyết định ở lại Việt Nam vì lúc ấy tuổi còn trẻ và còn tình yêu quê hương đất nước. Nếu đi chỉ có cá nhân sung sướng thôi, mình muốn ở lại để tiếp tay cho đất nước đang còn nghèo khổ.”
Vị bác sĩ thân hình nhỏ gọn, vẻ mặt minh mẫn tiếp tôi tại phòng mạch tư ở đường Chapel Road, Bankstown. Đây là một trong những khu shopping lớn của người Việt ở Sydney. Từ phòng mạch trên lầu một nhìn xuống, người ta thấy cả dãy phố buôn bán sầm uất, san sát cửa tiệm với bảng hiệu bằng ba thứ tiếng Việt, Anh, và Hoa.
Năm nay tròn 30 năm bác sĩ Bình định cư tại Úc, và thái độ dấn thân, phục vụ cộng đồng của ông vẫn nguyên vẹn như hồi xưa. Ông là Chủ tịch Hội thương gia Á Úc Thần long. Và là Chủ tịch Hội Y sĩ Úc châu. Quê gốc ở Bạc Liêu, vùng đất ông gọi là vựa tôm và vựa lúa của đồng bằng Cửu Long. Tuổi trẻ của ông sống trong sự trù phú và thanh bình, xung quanh ông là bà con người Hoa cần mẫn làm ăn:
“Người Hoa họ làm việc rất là cần cù, phần lớn là buôn bán, nhiều người rất thành công. Một số con em của người Hoa ở Bạc Liêu cũng tham gia chánh quyền, hoặc quân đội. Hoặc vô đại học, có những người xuất sắc và nổi tiếng,”
“Chứ không phải ai cũng là công tử Bạc Liêu đâu,” ông cười một cách sảng khoái.
Thất vọng
Khi tốt nghiệp Y khoa năm 1978 bác sĩ Bình làm việc tại bệnh viện Chợ Rẫy. Chẳng bao lâu sau đó, ông được điều về trạm chống sốt rét của tỉnh Minh Hải. Đây là vùng tận cùng của Việt Nam, đời sống đã nghèo khổ lại còn bị cách ly bởi nhiều bưng biền, kinh rạch.
- Vậy sau sau năm 1975 người Hoa ở Bạc Liêu có lo lắng không, khi thể chế thay đổi, chính quyền cộng sản (CS) tiếp thu?
“Ban đầu họ cũng lo, giống như tất cả người Việt Nam còn ở lại thôi, vì tình hình thay đổi. Tuy nhiên kể từ khi có chính sách đánh tư sản mại bản, nhà nước đánh trực tiếp vào những người làm thương mại, người Hoa bị ảnh hưởng nặng nề nhất trong giai đoạn đó.”
- Và nhiều người Hoa chọn cách ra đi. Liệu họ có bị giằng co giữa một bên là nhà cửa, tài sản, nơi chôn nhau cắt rún. Và bên kia là một chuyến đi chưa biết bến bờ?
“Khách quan mà nói toàn dân Việt Nam khi ấy muốn ra đi. Cá nhân ở lại là vì, tôi nghĩ đến sự hô hào, ý tưởng tốt đẹp trên đài phát thanh của phía cộng sản mà tôi nghe lén được,”
“Nhưng khi mình sống chung với cộng sản rồi tất cả ai cũng thất vọng, không chỉ cá nhân tôi, mà tôi nghĩ mọi người ai cũng đều mong muốn thoát khỏi nơi đó.”
Bác sĩ Bình giải thích ông cảm thấy bất lực vì lý tưởng phục vụ nhân loại, phục vụ con người bị sụp đổ. Những gì chế độ CS tuyên truyền không đúng với thực tế. Theo ông, dù có ở lại, và hết lòng muốn giúp đỡ đất nước, một mình ông khó mà làm được:
“Lúc còn đi học, mình được dạy là chữa bệnh hay cho thuốc bệnh nhân phụ thuộc vào bệnh trạng của người đó, tùy theo mức độ nặng nhẹ. Đến năm 1975, chánh quyền cộng sản vào, người ta ra lệnh tôi cho thuốc theo chế độ. Tức là thuốc đắt tiền, thuốc tốt chỉ dành cho những người có chức quyền,”
“Ví dụ quan chức có quyền khi vô nhà thương, họ được ăn uống tốt, được cho một khoản phụ cấp. Khi xuất viện họ năn nỉ, cho họ ở thêm, để ăn ngon hơn và có thêm tiền đút túi, đó là những cái làm cho mình vừa buồn cười, vừa thất vọng trước đất nước như vậy.”
Và gia đình nhỏ bé của người bác sĩ gồm hai vợ chồng và đứa con thơ bắt đầu tìm cách vượt biên từ đó.
Ra đi
Đúng vào lúc ông Bình thất vọng với cách phát thuốc cho cán bộ, tin đồn loan truyền về một chương trình ra đi bán chính thức. Ban đầu chỉ dành cho người Việt gốc Hoa.
“Tôi nghe kể lại chánh quyền Việt Nam lúc đó không muốn giữ người Hoa Kiều ở lại VN nữa, vì họ không thích hợp với chính sách kinh tế của CS. Cho nên họ tìm cách đẩy những người này ra đi,”
“Và cách duy nhất là họ mở một cái cửa nhỏ nhỏ hé hé cho những người này. Thứ nhất họ vừa không phải sống chung với những người đó, cái thứ nhì là họ có thể thu được số vàng khá lớn.”
Khi đó ai muốn đi, ông Bình nói, điều đầu tiên họ phải xưng là người Hoa. Nó cần được chứng minh qua giấy tờ, trong đó tên tuổi mang họ người Hoa. Thứ nhì họ phải đóng tiền cho giới chức địa phương, trung bình mỗi người ba lượng vàng, để được làm ‘ngơ’ cho ra đi cửa ‘bán chính thức.’
Khi ấy có rất nhiều ‘đầu nậu’ nhận vàng để lo thủ tục vượt biên. Họ là trung gian giữa những người như bác sĩ Bình, với chủ tàu, và các chốt công an biên phòng.
“Những người Hoa muốn rời VN dễ lắm. Họ gặp với nhau cùng đóng tiền với nhau hay đóng cho một cai thầu nào đó. Họ có những nguồn tin ngoài hành lang, nghe đồn với nhau.”
‘Vật tế thần’
1978/79 là thời gian quan hệ Trung–Việt xấu đi trông thấy. Người Hoa ở Việt Nam nhấp nhổm không yên. Người thì lủi thủi vượt biên bằng đường bộ qua ngả Phòng Thành trở về cố quốc. Người có tiền tìm cách vượt biên.
- Họ lo ngại về chính sách bài Hoa kiều của chính quyền trong nước. Liệu lo lắng này có tác động đến người bác sĩ trẻ, khi ấy đang theo đuổi dự án chống sốt rét cho thị trấn Cà Mau?
“Tôi sanh đẻ ở Bạc Liêu, VN, mặc dù ba tôi là người Hoa, nhưng nên nhớ rằng tôi được đi học trường Việt từ nhỏ, thầy cô, bạn bè là người Việt, tất cả những thứ đó, làm cho tôi nghĩ tôi là người Việt 100%,”
Trong quan hệ bất hòa giữa hai nước, nhiều người nói đến câu vạ gió tai bay. Nhiều người Hoa khi đó lo ngại rằng nếu ở lại Việt Nam họ có thể trở thành vật tế thần, hay ‘nguyên nhân’ để chính trị gia đổ lỗi, điều làm cho quan hệ hai nước xấu đi.
- Một số người bắt đầu gặp ‘nạn’, tại cơ quan, hay tổ dân phố, chỉ vì mang cái họ người Hoa. Liệu họ Liêu của bác sĩ Bình có bị ghép vào nguyên nhân gây ra bất ổn hay không?
“Trong cơ quan tôi làm việc không có sự phân biệt. Có lẽ tôi nói được tiếng Việt như những người xung quanh. Chính quyền khi ấy không ghép tôi vô thành phần người Hoa. Chưa ai nói tôi phải nghỉ việc, hay phải về lại cố quốc,”
“Nếu thế tôi đã may mắn! Cuối cùng tôi đã qua một tỉnh khác và dùng tên khác mới đi được. Lúc đó là tháng Tư năm 1979.”
“Sau 20 ngày trên biển, gặp biết bao đau đớn và chấn động, như thiếu lương thực, máy tàu bị hư, cướp biển lùng sục, hãm hiếp, cuối cùng tàu tôi đến đảo ngoài khơi Thái Lan.”

http://www.bbc.co.uk/vietnamese/indepth/story/2009/02/090212_lieuvinhbinh_sydney.shtml

.


"Mộng-Giác" là khi mê tỉnh, vọng tưởng và giác ngộ hiện về ...

Hữu như phù vân ...
Quán được cái chết thì sẽ không già và bất tử

Viết thử tiếng Việt có dấu ...